Các xét nghiệm về bệnh tuyến giáp và tuyến cận giáp

Trong chẩn đoán bệnh nội tiết, tiến hành các xét nghiệm kích thích nếu nghi ngờ giảm chức năng và các xét nghiệm ức chế nếu nghi ngờ cường chức năng của tuyến nội tiết sinh ra hormon đó. Các xét nghiệm ức chế sẽ ức chế các tuyến bình thường nhưng nó không ức chế sự tiết ra tự động (ví dụ chức năng của các u tăng sinh). Sự chuẩn bị bệnh nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho các xét nghiệm hormon. Kết quả của chúng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như stress, vị trí tư thế, trạng thái dinh dưỡng, thời gian trong ngày, tình trạng ăn kiêng, các thuốc điều trị… Tất cả các điều này cần phải được ghi chép lại trong bệnh án và cần được thảo luận với các bác sỹ lâm sàng về kết quả xét nghiệm.

Chuẩn bị mẫu xét nghiệm (trong một số xét nghiệm cần thiết phải tách chiết lấy huyết tương) và việc vận chuyển mẫu bệnh phẩm đến phòng xét nghiệm cần đúng thời gian, hợp lý (để lạnh). Không có một xét nghiệm riêng lẻ nào có thể phản ánh đầy đủ tình trạng của các tuyến nội tiết trong các điều kiện cụ thể mà cần phải phối hợp nhiều xét nghiệm trong đánh giá chức năng của một tuyến nội tiết.
8.1. Một số nét đại cương về hormon tuyến giáp:
8.1.1. Tổng hợp, dự trữ và giải phóng hormon tuyến giáp:
Việc tổng hợp T3 và T4 xảy ra trong nang tuyến giáp, bắt đầu từ sự hấp thu iod trong máu, dựa vào sự chênh lệch gradien nồng độ, được thực hiện bởi bơm iod của màng tế bào. Thyroglobulin – một glycoprotein khối lượng phân tử 600.000 Dalton, chứa tyrosin, và hệ thống enzym peroxidase có chức năng iod hoá tyrosin. Quá trình tổng hợp diễn ra trong nang tuyến và được vận chuyển đến đỉnh màng nơi enzym peroxidase hoạt hoá. Sự oxi hoá iod, gắn iod vào nhóm tyrosin và ghép đôi nhóm iodtyrosin với nhau trong phạm vi phân tử thyroglobulin để tạo một iodthyronin được xúc tác bởi peroxidase tuyến giáp. Nếu điều kiện đủ iod hầu hết phân tử hormon tuyến giáp sẽ được tổng hợp thành T4, nhưng nếu thiếu iod thì tỉ lệ T3 sẽ tăng lên.

Thyroglobulin đã được iod hoá gồm T3 và T4, chúng được dự trữ trong chất keo. Dưới tác dụng của hormon kích thích tuyến giáp TSH, chất keo được hấp thu lại vào trong tế bào dưới dạng những giọt nhỏ và được làm tan ra bởi 144 lysosome, T3 và T4 được giải phóng. Mono và diiodthyrosine cũng được tạo thành. Những hợp chất sau cùng này được khử iod phạm vi rộng trong giới hạn thyroid và iod được bảo tồn. TSH kích thích sự hấp thu iod và sự iod hoá thyrogloblin và cả sự giải phóng hormon tuyến giáp. Peroxidase tuyến giáp bị ức chế bởi các chất kháng giáp như propythiouracil và mercaptoimidazol (methimadazol, carbimazol).

Quá nhiều iod sẽ ức chế adenylate cyclase đáp ứng với TSH và ức chế sự iod hoá thyroglobulin. Đây là hiệu ứng Wolff- Chaikoff. Sau vài ngày với mức iod cao, tuyến giáp hấp thu iod rất thấp. Nồng độ của iod trong tuyến giáp giảm xuống và sự tổng hợp thyroglobulin lại bắt đầu. Hiệu ứng này thường được ứng dụng cho chuẩn bị bệnh nhân cường giáp trước phẫu thuật.
8.1.2. Vận chuyển hormon tuyến giáp trong máu:
Khi enzym lysosome giải phóng hormon tuyến giáp từ thyroglobulin,T3 và T4 được vận chuyển qua màng tế bào nang tuyến và màng đáy của nang vào máu, nơi chúng liên kết với protein huyết tương (3 protein giữ chức năng này, để giảm ái lực của iodothyronin, đó là thyroxine binding globulin (TBG), thyroxine binding prealbumin hoặc transthyretin (TBPA) và albumin)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *