Polyp mũi – xoang là một tổn thương giả u, lành tính khu trú tại niêm mạc mũi – xoang.
Bệnh viêm mũi – xoang polyp tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng diễn biến kéo dài dai dẳng, ảnh hưởng nhiều tới chức năng thở của người bệnh, làm cho bệnh nhân mệt mỏi ảnh hưởng tới sinh hoạt cũng như khả năng lao động và học tập của người bệnh.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về viêm mũi – xoang polyp, cơ chế bệnh sinh vẫn còn tranh cãi và nguyên nhân khá phức tạp, song các tác giả đều thống nhất “polyp mũi – xoang là kết quả của sự viêm nhiễm phù nề dẫn đến hiện tượng thoái hóa đa ổ của niêm mạc mũi – xoang”.
Tỷ lệ polyp mũi – xoang tái phát sau phẫu thuật rất cao, vấn đề điều trị gặp nhiều khó khăn, làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, kinh tế,đặc biệt là tâm lý người bệnh.
Vào năm 1980 Virolaineu và Puhaka thấy tỉ lệ tái phát sau một năm phẫu thuật cắt polyp mũi là 46% trong nhóm điều trị corticoid và 87% trong nhóm không điều trị corticoid. Nghiên cứu của Rombaux, năm 2001, thấy rằng viêm mũi xoang polyp tái phát sau một năm phẫu thuật là 40,3%.
ở Việt Nam, với khí hậu nhiệt đới có độ ẩm cao, nóng và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Bệnh về mũi – xoang ngày càng gia tăng và viêm mũi – xoang polyp ngày càng nhiều. Tỉ lệ polyp mũi – xoang tái phát sau mổ còn rất cao.
Vào năm 2000, Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Hải, tỉ lệ tái phát sau phẫu thuật là 32%. Năm 2002, Lê Thị Hà , thấy rằng polyp tái phát sau phẫu thuật ba tháng là
39,4%, sau một năm là 53,4%. Năm 2006, Ngô Thuỳ Nga, tỉ lệ polyp tái phát sau phẫu thuật ba tháng là 45%.
Trong khoảng 10 năm gần đây, sự ứng dụng rộng rãi kỹ thuật nội soi vào khám và phẫu thuật chức năng mũi xoang cho phép phát hiện và điều trị sớm được polyp. Cùng với sự ra đời của thuốc corticoid tại chỗ có thể dùng kéo dài cho bệnh nhân. Nhờ vậy mà tỉ lệ tái phát của viêm mũi- xoang polyp đã giảm xuống.
Những hiểu biết về cơ chế sinh bệnh, yếu tố nguy cơ tái phát của polyp còn chưa được rõ ràng.
Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu nhằm mục tiêu :
1.    Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng của viêm mũi xoang polyp tái phát.
2.    Bước    đầu    đánh giá    kết    quả    điều    trị    và tìm    hiểu    yếu    tố    nguy    cơ viêm    mũi
xoang polyp tái phát.
II.    Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 1. Đối tượng
*Đối tượng nghiên cứu:
Gồm 20 bệnh nhân viêm mũi xoang polyp tái phát được    khám,    chẩn    đoán,    điều
trị và theo dõi tại bệnh viện Tai – Mũi – Họng Trung ương từ tháng    12    /2008    –
8/2009.
*Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
–    Bệnh nhân > 15 tuổi.
–    Bệnh án ghi chép    đầy    đủ, rõ ràng, chi    tiết    theo    bệnh    án    mẫu,    khám    nội    soi
trước phẫu thuật, điều trị, theo dõi sau phẫu thuật.
–    Bệnh nhân được chụp phim cắt lớp vi tớnh (CLVT) tư thế Coronal và Axial.
–    Đầy đủ xét nghiệm cơ bản và mô bệnh học.
–    Đủ sức khoẻ để có thể cộng tác và tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
–    Không có đủ điều kiện như đã nêu trong tiêu chuẩn lựa chọn
–    Bệnh nhân papillom.
–    Bệnh nhân có tình    trạng toàn thân nặng    nề    như    già    yếu,    có    bệnh    tim    mạch,
bệnh phổi nặng…
–    Bệnh nhân không hợp tác nghiên cứu
2.    Phương pháp
Sử dụng phương pháp tiến cứu theo dõi dọc, mô tả từng ca có can thiệp (đánh giá tình trạng bệnh , kết quả trước và sau điều trị).
*Phương tiện
Bộ nội soi mũi xoang Karl Stortz, camera Endovision, màn hình
*Các bước tiến hành
–     Khám lâm sàng: tìm hiểu về tiền sử, bệnh lý liên quan;triệu chứng cơ năng,
triệu chứng thực thể; nội soi chụp ảnh.
–     Cận lâm sàng, sinh thiết, chụp phim cắt lớp vi tính coup Coronal và Axial.
–    Phẫu thuật nội soi.
–    Chăm sóc và theo dõi sau phẫu thuật.

   
NCCSM.01409

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *