Đặt vấn đề : Sự thiếu tương đối hay tuyệt đối insulin trong bênh ĐTĐ là nguyên nhân gây tình trạng thay đổi chuyển hoá chất mà trước tiên là rối loạn chuyển hoá glucid và kéo theo rối loạn chuyển hoá lipid. Sự thay đổi bất thường về lipid máu là một nguy cơ cao gây vữa xơ động mạch (VXĐM), biến chứng tim ở bệnh nhân ĐTĐ. Hiện nay, có nhiều loại thuốc điều trị ĐTĐ được sử dụng, trong đó có các loại thuốc đông y. Các thuốc tây y thường có tác dụng phụ không mong muốn (đặc biệt khi điều trị dài ngày), giá thành cao. Các thuốc đông y tránh được các nhược điểm này và hiện nay đang thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Tác dụng hạ glucose máu và hạn chế rối loạn lipid máu riêng rẽ của bột chiết lá dâu cũng đã được chứng minh [3, 4]. Nghiên cứu này nhằm Mục tiêu: Đánh giá tác dụng hạn chế rối loạn lipid máu của bột chiết lá dâu ở chuột cống trắng ĐTĐ thực nghiệm. Chất liêu, đối tượng và phương pháp: Bột lá dâu được chiết xuất theo quy trình như đã công bố trước đây [3]. Tác dụng hạn chế rối loạn lipid máu của bột chiết lá dâu được thực hiện trên chuột cống trắng ĐTĐ uống bột chiết lá dâu với liều 300mg/kg 600mg/kg/ngày. Các chỉ số glucose máu, lipid máu được xác định trên máy Olympus – AU 400. Kết quả: (1) tình trạng rối loạn lipid máu của nhóm chuột ĐTĐ trầm trọng hơn nhiều so với nhóm chuột không ĐTĐ . (2) So với nhóm chuột gây ĐTĐ (nhóm II), 2 nhóm chuột ăn chế độ ăn giàu lipid + gây ĐTĐ và uống bổ xung bột chiết lá dâu liều 300mg/kg và 600 mg/kg/ngày, sau 30 và 60 ngày điều trị ngoài chỉ số glucose máu, các chỉ số lipid máu: TRI, TC, LDL- C đều giảm,. Kết luận: Ngoài tác dụng hạ glucose máu, bột chiết lá dâu có tác dụng điều trị rối loạn lipid máu ở chuột cống trắng ĐTĐ thực nghiệm.
Từ khoá : lá dâu, triglycerid, cholesterol, HDL- C, LDL- C.
1.    ĐẶT VẤN ĐỂ
Sự thiếu tương đối hay tuyệt đối insulin trong bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây tình trạng thay đổi chuyển hoá glucid. Do rối loạn chuyển hoá glucid đã kéo theo hàng loạt rối loạn chuyển hoá các chất khác, trong đó có rối loạn chuyển hoá lipid. Sự thay đổi bất thường về số lượng và thành phần lipid máu là một nguy cơ cao gây vữa xơ động mạch (VXĐM) ở bệnh nhân ĐTĐ. Theo các thống kê, biến chứng tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ [5].
Hiện nay số lượng bệnh nhân ĐTĐ tăng rất nhanh, nên nhu cầu các thuốc điều trị ĐTĐ và hạn chế các biến chứng là rất lớn. Hiện nay, có nhiều loại thuốc điều trị ĐTĐ đã được sản xuất và đưa vào sử dụng (các sulfonylurea, biguanid, …) nhằm cải thiện cuộc sống cho người bệnh. Các thuốc Tây y điều trị bệnh ĐTĐ và rối loạn lipid máu thường có có ưu điểm là hiệu quả điều trị nhanh, dễ sử dụng. Tuy nhiên, các thuốc tây y thường có tác dụng phụ không mong muốn (đặc biệt khi điều trị dài ngày) và có giá thành cao. Các thuốc đông y tránh được các nhược điểm này và được dùng phổ biến ở các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam. Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về cây thuốc có tác dụng hạ glucose máu và điều trị bệnh ĐTĐ. Một số bài thuốc, cây thuốc có tác dụng điều trị bệnh ĐTĐ và rối loạn lipid máu cũng đã được công bố và đưa vào áp dụng trên lâm sàng.
Trên thế giới, đặc biệt là châu Á và gần đây là Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu cho thấy tác dụng hạ glucose máu ở chuột nhắt trắng của bột chiết lá dâu, rễ dâu [1, 3]. Cơ chế tác dụng hạ glucose máu của bột chiết lá, rễ dâu đã được biết là thông qua thành phần DNJ (chất có cấu trúc hóa học tương tự glucose) và có thể còn những cơ chế tác dụng khác [7]. Ngoài tác dụng hạ glucose máu, bột chiết lá dâu còn có tác dụng chông oxy hóa [1]. Tác dụng hạn chế rối loạn lipid máu cũng đã được chứng minh trên thực nghiêm [5]. Tuy nhiên, các tác dụng trên của bột chiết lá dâu được nghiên cứu một cách riêng rẽ. Rối loạn chuyển hoá lipid trong ĐTĐ sẽ có những đặc điểm riêng. Vì vậy, chúng tôi thực hiên đề tài này nhằm: “Đánh giá tác dụng hạn chế rối loạn lipid máu của bột chiết lá dâu ở chuột cống trắng gây rối loạn lipid và ĐTĐ thực nghiệm”.
2.    ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu.
2.1.    Đối tượng.
–    Lá dâu được thu thập tại tỉnh Hà Tây, tên khoa học Morus alba L, thuộc họ Moraceae.
–    Chuột công trắng, chủng Ratus norvegicus, 2 tháng tuổi, cân nặng 120 ± 20 gam. Chuột được nuôi tại khu chăn nuôi động vật thí nghiêm của Bênh viên Việt Nam-Thụy Điển, Uông bí-Quảng Ninh trong điều kiên nhiêt độ và ánh sáng thích hợp, ăn, uống đầy đủ theo yêu cầu thực nghiêm.
Cholesteorol tinh khiết, hãng Merk (Đức) cung cấp
2.2.    Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1.    Chiết xuất bột lá dâu.
Bột chiết lá dâu sử dụng trong nghiên cứu được chiết xuất như đã công bố ở nghiên cứu trước[14]. Quá trình chiết xuất được thực hiên tại Viên Hóa học – Viên khoa học Viêt Nam.
2.2.2.    Mô hình gây rối loạn lipid máu đơn thuần.
Chuột được ăn chế độ ăn 40% calo khẩu phần là chất béo (theo bảng thành phần dinh dưỡng thực phẩm Viêt Nam, Viên Dinh dưỡng, Bộ Y tế, Nhà xuất bản Y học 2000) liên tục trong suốt thời gian thực nghiêm.
2.2.3.    Mô hình gây rối loạn lipid máu kết hợp ĐTĐ thực nghiệm.
Ngày thứ 31 của rối loạn lipid máu, chuột được tiêm màng bụng STZ với liều 50mg/kg (một liều duy nhất). Nồng độ glucose máu được xác định hàng ngày để xác định chuột đã được gây ĐTĐ. Chuột sau đó được tiếp tục cho ăn với chế độ ăn giàu lipid.
2.2.4.    Mô hình khảo sát tác dụng điều trị rối loạn lipid máu ở chuột ĐTĐ của bột chiết lá dâu.
–    Nhóm chứng (n=14): nuôi chế độ ăn bình thường 12% calo khẩu phần là lipid (theo bảng thành phần dinh dưỡng thực phẩm Viêt Nam, Viên Dinh dưỡng, Bộ Y tế, Nhà xuất bản Y học 2000) liên tục trong suốt thời gian thực nghiêm.
–    Nhóm I (n= 14): gây rối loạn lipid máu.
–    Nhóm II (n=14): gây rối loạn lipid máu + ĐTĐ, sau khi gây ĐTĐ được điều trị liên tục bằng Diamicron (glyclazid)liều 3mg/kg/ngày trong 60 ngày (từ ngày thứ 31 đến ngày thứ 90).
–    Nhóm III (n=14): gây rối loạn lipid máu + ĐTĐ, được điều trị liên tục bằng bột chiết lá dâu liều 300mg/kg/ngày trong 60 ngày(từ ngày thứ 31 đến ngày thứ 90).
–    Nhóm IV (n=14): gây rối loạn lipid máu + ĐTĐ được điều trị liên tục bằng bột chiết lá dâu liều 600mg/kg/ngày trong 60 ngày(từ ngày thứ 31 đến ngày thứ 90).
2.3.5.    Các thời điểm lấy máu xét nghiệm.
Ngày thứ 60: Nhóm chứng, I, II, III, IV, mỗi nhóm giết 7 chuột lấy máu xét nghiêm.
Ngày thứ 90: Nhóm chứng, I, II, III, IV mỗi nhóm giết 7 chuột lấy máu xét nghiêm.
Chuột được giết vào sáng sớm, lúc đói.
2.3.6.    Các kỳ thuật được sử dụng trong nghiên cứu.

   
NCCSM.01407

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *