Để thăm dò hệ thống TM vùng thực quản dạ dày, người ta có thể tiến hành các phương pháp thăm dò chảy máu hoặc các phương pháp thăm dò không chảy máu. Các phương pháp thăm dò chảy máu bao gồm: Chụp mạch, đo áp lực tại búi giãn [4], và đo lưu lượng máu qua TM đơn bằng phương pháp tán nhiệt liên tục (continous themal dilution) [3,5]. Các phương pháp thăm dò không chảy máu đó là: siêu âm, siêu âm Doppler màu, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, siêu âm nội soi (SANS) và SANS Doppler màu. Trong các phương pháp thăm dò không chảy máu, thì SANS và SANS Doppler màu có thể cho biết hình ảnh TM tại vùng thực quản và dạ dày, đồng thời có thể cho biết lưu lượng máu qua TM đơn[5-10].
Từ thập kỉ 80 của thế kỉ trước, các nhà nghiên cứu đã sử dụng máy siêu âm nội soi (SANS) để thăm dò ống tiêu hoá cũng như cơ quan lân cận của ống tiêu hoá. Từ những năm 1990 trở về đây, SANS và SANS Doppler màu đã được ứng dụng để khảo sát hệ thống TM tại các lớp của thực quản và dạ dày, cũng như đo lưu lượng máu qua TM đơn ở người bình thường và bệnh nhân xơ gan.
ở Việt Nam, SANS lần đầu tiên được áp dụng tại khoa Tiêu Hoá bệnh viện Bạch Mai vào năm 1995 [1]. Nghiên cứu sơ bộ trên số lượng ít người khoẻ mạnh cho những kết quả đáng lưu ý để tiếp tục nghiên cứu sâu. Cho tới nay, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về hệ thống tĩnh mạch thực quản và dạ dày ở người bình thường qua SANS Doppler màu. Bởi vậy, chúng tôi nghiên cứu với mục đích:
–    Nghiên cứu những đặc điểm về hình ảnh hệ thống tĩnh mạch ở thực quản và phình vị dạ dày ở người người bình thường qua siêu âm nội soi
–     Đánh giá tốc độ dòng chảy của tĩnh mạch đơn ở người bình thường bằng siêu âm nội soi Doppler màu
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1.    Đối tượng
Chúng tôi    tiến    hành nghiên    cứu    trên những người    bình    thường    (không có    tăng    áp    lực    tĩnh
mạch cửa )
1.1    Tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu
–     Những người bình thường.
–     Nội soi thực quản dạ dày không có giãn tĩnh mạch thực quản dạ dày
1.2    Tiêu chuẩn loại trừ
–     Có biểu hiện của xơ gan hoặc có biểu hiện của tăng áp lực tĩnh mạch cửa
–     Có sốt hoặc viêm nhiễm cơ quan như : viêm đường mật, giun chui ống mật….
–    Viêm tụy cấp hoặc mạn
–     Biểu hiện bệnh lý ác tính của đường tiêu hóa hoặc các cơ quan khác
2.    Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: đây là một nghiên cứu tiến cứu
a.    Siêu âm nội soi
Chuẩn bị bệnh nhân:
–    Nhịn ăn trước ít nhất 6 giờ
–    Giải thích cho bệnh nhân
–    Tiền mê bằng Midazolam
–    Dùng Buscopan 10 mg chống co thắt
–    Gây tê họng bằng Lidocain 2%
b.    Phương pháp thăm dò
–    Máy siêu âm Pro Sound SSD a 5 của hãng ALOKA Nhật Bản: có thể thực hiện B-mode, M- mode, Doppler,
–    Dây siêu âm nội soi của hãng Olympus Nhật Bản kí hiệu GF-UE 160-Al5 có đầu dò điện tử với góc quét 360o có thể chuyển tần số 5; 6; 7,5 và 10 MHz và thực hiện được Doppler màu.
c.    Kĩ thuật tiến hành
–    Đưa đầu dò vào thực quản xuống tâm vị và phình vị dạ dày bơm căng bóng quan sát các TM trong thành dạ dày và quanh thành dạ dày, thành dạ dày vùng tâm vị và phình vị.
–     Rút đèn soi lên thực quản đánh giá các TM tại thành thực quản.
–    Cách xác định TM đơn: vị trí từ 25-30 cm tính từ cửa răng trên sau khi xoay máy SANS nhẹ sang bên phải cho phép xác định được TM đơn nằm ở bên phải của động mạch chủ ngực. Đo đường kính TM đơn, đo ttocs đọ dòng chảy qua TM đơn bằng Doppler.
d.    Nhận định kết quả
–    Giãn TM thực quản
–     Có TM xuyên tại thực quản hay không, nếu có tiến hành đo đường kính TM xuyên thực quản
–    Có TM quanh thực quản hay không, nếu có đo đường kính TM quanh thực quản
–    Đo đường kính TM đơn tại điểm cách cung răng trên 25-30 cm tại vị trí có đường kính lớn nhất
–    Có giãn TM vùng phình vị
–    Có giãn TM quanh dạ dày hay không
–    Có giãn TM thành dạ dày hay không

   
NCCSM.01412

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *