Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một trong những ung thư thường gặp ở phụ nữ, nó đứng vị trí hàng đầu ở những nước đang phát triển và ở vị trí thứ hai trên toàn cầu với khoảng 500.000 trường hợp mới mắc và 250.000 ca tử vong mỗi năm (WHO 1989 – dẫn theo NGUYỄN VƯỢNG dịch -1990) [27].Tại Việt Nam, qua số liệu ghi nhận gần đây ở Hà Nội, UTCTC đứng hàng thứ ba ở phụ nữ sau ung thư vú và ung thư dạ dày, trong khi đó, tỷ lệ này đứng hàng đầu ở thành phố Hồ Chí Minh và ở các tỉnh phía Nam [1].

Tuy nhiên, nhờ những nỗ lực gần đây của các nhà khoa học, phần lớn những nguy cơ gây UTCTC đã được nhận diện, giúp cho việc phòng và phát hiện sớm UTCTC ngày một khả quan hơn. Đặc biệt việc phát hiện ra virus sinh u nhú ở người (Human Papilloma Virus: HPV) là yếu tố nguy cơ cao nhất của      UTCTC đã trở thành một vấn đề thời sự của y học hiện đại nói

chung, u học nói riêng.

Theo số liệu của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) [46], ước tính tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ toàn cầu lên tới hàng trăm triệu người, ít nhất khoảng 50% nam và nữ ở độ tuổi hoạt động tình dục đã từng bị nhiễm HPV. Tỷ lệ nhiễm cao nhất được phát hiện là ở một số nước Châu Phi như Zimbabwe lên tới 41,6%. Ở một số nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, tỷ lệ nhiễm HPV tương ứng là 18%, 16,9%, và 10,4%. Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu, thống kê đầy đủ số người nhiễm HPV và những hậu quả về vật chất, tinh thần đối với người mắc bệnh do HPV gây ra. Vì vậy, chúng tôi chỉ đưa ra những số liệu có tính thống kê hiện có tại một số thành phố như: Thành phố Hồ Chí Minh: tỷ lệ nhiễm HPV phát hiện được là 9,9% đến 12%, ở Hà Nội là 1,86% [10] , [18], [19].

Các bệnh do nhiễm HPV gây ra kể cả UTCTC, có thể chữa khỏi hẳn nếu được phát hiện sớm. Điều quan trọng là làm sao phát hiện nhiễm HPV? và phải có một chương trình sàng lọc được áp dụng nhằm phát hiện sớm những trường hợp nhiễm HPV, từ đó có biện pháp điều trị triệt để, ngăn chặn nguy cơ tiến triển thành ung thư, nhất là ung thư xâm nhập [26]

Trên thế giới, trong 2 năm 2005- 2006 đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu, tài liệu tham khảo về HPV được đưa lên mạng. Tại Việt Nam, từ năm 2002 đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu nhằm phát hiện nhiễm HPV ở cổ tử cung qua phết TBH cổ tử cung, MBH (đã phổ biến) hoặc kỹ thuật PCR, lai tại chỗ (chưa mở rộng) [4], [10], [18], [19], [23].Tuy nhiên, mỗi phương pháp đều có những giá trị chẩn đoán khác nhau. Vì thế, chúng tôi tiến hành đề tài:

Nghiên cứu phát hiện nhiễm virus gây u nhú ở người trong viêm và tân sản cổ tử cung qua xét nghiệm tế bào học, mô bệnh học, PCR” với

mục tiêu:

–   Bước đầu xác định tỷ lệ nhiễm HPV trong viêm và tân sản CTC.

–    Nghiên cứu giá trị của các phương pháp phiến đồ AĐ – CTC, mô

bệnh học và PCR trong việc phát hiện nhiễm HPV.

   
LVTHSY 0101

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *