SỰ THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ IL-6, IL-10 VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI ĐẶC ĐIỂM ĐỘ NẶNG TỔN THƯƠNG Ở BỆNH NHÂN ĐA CHẤN THƯƠNG CÓ GÃY XƯƠNG LỚN

SỰ THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ IL-6, IL-10 VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI ĐẶC ĐIỂM ĐỘ NẶNG TỔN THƯƠNG Ở BỆNH NHÂN ĐA CHẤN THƯƠNG CÓ GÃY XƯƠNG LỚN

SỰ THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ IL-6, IL-10 VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI ĐẶC ĐIỂM ĐỘ NẶNG TỔN THƯƠNG Ở BỆNH NHÂN ĐA CHẤN THƯƠNG CÓ GÃY XƯƠNG LỚN
Mai Văn Bảy1,2, Phạm Đăng Ninh2, Vũ Xuân Nghĩa3
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát sự thay đổi nồng độ IL-6, IL-10 huyết thanh và mối liên quan với đặc điểm, độ nặng tổn thương ở bệnh nhân (BN) đa chấn thương có gãy xương lớn. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu độ nặng tổn thương và tình trạng trên 59 BN đa chấn thương đánh giá bằng điểm ISS và RTS. Định lượng IL-6, IL-10 tại các thời điểm T0 (6 giờ sau chấn thương hoặc thời điểm vào viện nếu BN nhập viện quá 6 giờ sau chấn thương); T1, T2, T3, T4 lần lượt 12, 24, 48, 72 giờ sau chấn thương; T5: thời điểm phẫu thuật kết xương; T6: ngày đầu sau phẫu thuật kết xương. Kết quả: Tỷ lệ gãy xương đùi 71,2%, gãy xương chậu 27,1%. Điểm ISS, RTS trung bình lần lượt là 32,02 ± 11,91 và 8,24 ± 1,92; nồng độ IL-6 huyết tương tăng, đạt đỉnh sớm tại T1 (95,90 ± 69,72 ng/L) và đạt đỉnh lần 2 ở T2 (120,10 ± 76,85 ng/L). Nồng độ IL-10 cũng tăng sớm nhưng tăng từ từ sau chấn thương và đạt đỉnh ở T4 (215,79 ± 132,22 ng/L) và T6 (264,12 ± 118,96 ng/L). Nồng độ IL-6 và tỷ lệ IL-6/IL-10 tăng cao hơn ở những BN tử vong và có giá trị tiên lượng tử vong cao với diện tích dưới đường cong ROC là 0,920 và 0,903 ở thời điểm T0. Nồng độ IL-6, IL-10 huyết thanh và tỷ lệ IL-6/IL-10 có mối tương quan thấp với điểm ISS, RTS khi đánh giá độ nặng tổn thương. Kết luận: BN đa chấn thương có gãy xương lớn nồng độ IL-6, IL-10 huyết thanh tăng ngay sau chấn thương. Nồng độ IL-6 huyết thanh và tỷ lệ IL-6/IL-10 ở thời điểm T0 có giá trị tiên lượng tử vong cao. Nồng độ IL-6, IL-10 và tỷ lệ IL-6/IL-10 có mối tương quan thấp với điểm ISS, RTS khi đánh giá độ nặng tổn thương.

Nguồn: https://luanvanyhoc.com

Leave a Comment