Đặt vấn đề: Có năm loại E. coli gây tiêu chảy đã được xác định: EAEC, EHEC, EIEC, EPEC và ETEC. Các gien qui định yếu tố độc lực (bám dính, độc tố, kháng kháng sinh…) có vai trò quan trọng trong cơ chế gây bệnh của các E. coli gây tiêu chảy. Việc xác định các gien này có ý nghĩa quan trọng trong chan đoán, nghiên cứu dịch tễ học và sản xuất vacxin. Mục tiêu: Xác định sự phân bố của của một số gien qui định các yếu tố độc lực ở các chủng DEC và E. coli không gây tiêu chảy. Đối tượng, phương pháp: 161 chủng E. coli gây tiêu chảy thuộc bốn loại EAEC, EIEC, EPEC, ETEC và 100 chủng E. coli không gây tiêu chảy. Kỹ thuật PCR với các cặp mồi đặc hiệu được sử dụng để phát hiện các gien này. Kết quả: EAEC chiếm 50% số các DEC phân lập và xác định được. Các chủng EAEC mang gien aap với tỷ lệ cao nhất (96,5%), aggR (79,1%) và astA (60,5%). Số chủng mang cả 3 gien aap, aggR và astA là 37,2%. Không có chủng nào âm tính với cả 3 gien. Cả ETEC, EPEC và EIEC đều mang các gien aap, aggR và astA với tỷ lệ từ 7% đến 72,7%. Tỷ lệ mang gien aap cao nhất gặp ở EIEC (72,7%), aggR gặp ở EIEC (45,5%), và astA ở ETEC (50%). 14% các chủng E. coli được coi là không gây tiêu chảy mang gien aggR và trên 30% các E. coli này mang gien aap và astA. Kết luận: Kết quả của nghiên cứu đã đóng góp vào hiểu biết thêm về sự phân bố của một số gien qui định các yếu tố độc lực của E. coli gây tiêu chảy. Nó là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo ở Việt Nam về dịch tễ học phân tử và phát triển vacxin phòng tiêu chảy do E. coli.
Từ khoá: Phân bố, gien độc lực, E. coli
I.    Đặt vấn đề
Tiêu chảy là một bệnh thường gặp ở cả các nước đã và đang phát triển. Các căn nguyên gây tiêu chảy gồm vi khuẩn, virut và ký sinh trùng. Trong số các căn nguyên gây tiêu chảy, E. coli đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà vi sinh, bác sĩ lâm sàng và nhi khoa vì nó chiếm từ 20-30% trong số các căn nguyên xác định được từ phân tiêu chảy [4, 5]. Các DEC được chia thành 5 nhóm chính dựa trên đặc điểm lâm sàng, dịch tễ, týp huyết thanh và đặc biệt là sự có mặt của các yếu tố độc lực. Trong đó, các yếu tố độc lực có ý nghĩa quyết định. Chúng là E. coli bám dính kết tập đường ruột (enteroaggregative E. coli – EAEC), E. coli gây xuất huyết đường ruột (enterohaemorrhagic E. coli – EHEC), E. coli xâm nhập đuờng ruột (enteroinvasive E. coli – EIEC), E. coli ‘‘gây bệnh lý đường ruột’’ (enteropathogenic E. coli – EPEC), và E. coli sinh độc tố ruột (enterotoxigenic E. coli – ETEC) [4]. Mỗi một loại E. coli gây tiêu chảy kể trên đều có một hoặc một số gien (gien độc lực) nằm trên nhiễm sắc thể hoặt plasmid, mã hoá cho các yếu tố độc lực. Chúng có thể là độc tố ruột (LT, ST, EAST1), yếu tố bám dính (intimin, lông bám dính, protein dispersin…), yếu tố liên quan đến sự kháng kháng sinh của vi khuẩn (gien sinh ESBL…) [2, 4, 7]. Việc phát hiện sự có mặt của các gien qui định những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xác định các E. coli gây tiêu chảy, cơ chế gâybệnh của chúng, dịch tễ học phân tử, sự kháng kháng sinh. Thêm vào đó, nghiên cứu các gien độc lực này là cơ sở cho việc phát triển vacxin phòng tiêu chảy do E. coli. Chính vì những lý do trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm hai mục tiêu:
1.     Xác định sự có mặt của một số gien độc lực ở các E. coli gây tiêu chảy
•    •    •    •    o    •    •    o
2.    Xác định sự phân bố một số gien độc lực ở các E. coli gây tiêu chảy
II.    Đối tượng, vật liệu và phương pháp nghiên cứu
–    Đối tượng nghiên cứu
+ 161 chủng E. coli phân lập từ phân của trẻ dươí 5 tuổi (bị tiêu chảy và không tiêu chảy) sống ở Hà Nội, gồm 86 chủng EAEC, 11 chủng EIEC, 50 chủng EPEC và 14 chủng ETEC.
+ 100 chủng E. coli đã được xác định là không gây tiêu chảy bằng PCR với các cặp mồi đặc hiệu [5].
+ Chủng E. coli làm chứng dương và chứng âm E. coli 17-2 và E. coli 11775 do GS Andrej Weintraub, Khoa Vi sinh lâm sàng, Viện Karolinska, Thụy Điển cung cấp.
–    Vật liệu nghiên cứu
Sinh phẩm, hoá chất dùng cho nuôi cấy, phân lập vi khuẩn, PCR
–    Phương pháp nghiên cứu
+ Kỹ thuật PCR phát hiện gien eltB, estA, vt1, vt2, eaeA, ial, bfpA, pCVD, aap,
aggR và astA được áp dụng theo mô tả của Trung [5], Yamamoto, Cerna và cộng sự [7, 1]. Qui trình PCR được thực hện trên máy GeneAmp PCR system 9700 AB (Applied Biosystem, USA). 10 ^l sản phẩm PCR được dùng để điện di trên gel

   
NCCSM.01402

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *