BệNH NHÂN MắC BệNH NHIễM TRùNG ĐếN KHáM TạI TRạM Y Tế Xã THUộC HUYệN HảI LĂNG Và VĩNH LINH, TỉNH QUảNG TRị SAU LụT NĂM 2009

BệNH NHÂN MắC BệNH NHIễM TRùNG ĐếN KHáM TạI TRạM Y Tế Xã THUộC HUYệN HảI LĂNG Và VĩNH LINH, TỉNH QUảNG TRị SAU LụT NĂM 2009

BệNH NHÂN MắC BệNH NHIễM TRùNG ĐếN KHáM TạI TRạM Y Tế Xã THUộC HUYệN HảI LĂNG Và VĩNH LINH, TỉNH QUảNG TRị SAU LụT NĂM 2009
Hà Văn Nh- – Trường Đại học Y tế công cộng
TóM TắT
Nghiên cứu mô tả cắt ngang đ-ợc tiến hành tại hai huyện Hải Lăng và Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị năm 2010 nhằm mô tả tình hình bệnh nhân mắc bệnh  nhiễm  trùng  đến  trạm  y  tế  (TYT)  xã  khám số sốsố số 10 1010 10/2012 31 3131 31chữa  bệnh  sau  lũ  lụt  tháng  9  năm  2009.  Số  liệu khám chữa bệnh (KCB) tại tất cả các TYT xã đ-ợc phân tích và so  sánh trong thời  gian 3 tháng  sau lụt  với  3  tháng  tr-ớc  lụt.  Kết  quả  nghiên  cứu  cho thấy: số l-ợt KCB nhiễm trùng ở huyện bị lụt tăng 1,15  lần  so  với  huyện  không  bị  lụt  (95%CI:  1,10-1,20).  Bệnh  nhiễm  trùng  phổ  biến  nhất  là  nhiễm trùng  đường  hô  hấp  (47,17%);  hội  chứng  cúm (19,07%);  triệu  chứng  dạ  dày-ruột  (10.07%)  và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em (9,72%). Số lượt
KCB  của phụ  nữ chiếm  56,03% tổng số l-ợt  KCB cả 3 tháng tr-ớc và sau lụt. Nhóm ng-ời 50-59 và nhóm trẻ em d-ới 5 tuổi là nhóm có tỷ lệ KCB cao nhất. Cần tiến hành nghiên cứu điều tra hộ gia đìnhnhằm  xác  định  chính  xác  tỷ  lệ  mắc  bệnh  nhiễm trùng sau lũ lụt trong cộng đồng bị lũ lụt.

Tài Liệu Tham Khảo
1.  Ban  chỉ  đạo  phòng  chống  lụt  bão  trung  ương  (2009), Báo cáo  tổng hợp thiệt hại do bão  số 9,  tính  đến ngày 15 tháng 10 năm 2009
2.  Bộ Y tế (2011), Niên Gián thống kê y tế 2010
3.  Hà Văn Như (2011), Tình hình khám chữa bệnh tại trạm y tế xã thuộc huyện Văn Chấn, tỉnh Yên bái sau  lũ  quét  tháng  9  năm  2005,  Tạp  chí  Y  học  dự phòng, tập XXI, số 6(124), tr. 298-306
4.  Hà Văn Như  (2011), Tình hình bệnh nhân  mắc bệnh  nhiễm  trùng  đến  khám  tại  trạm  y  tế  xã  An Phước, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp trong mùa lũ năm  2007,  Tạp  chí  Y  học  dự  phòng,  tập  XXI,  số  4 (122), tr. 85-92

 

Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất

Leave a Comment