ĐặC ĐIểM DịCH Tễ HọC GãY Gò Má CUNG TIếP ở NHữNG BệNH NHÂN ĐIềU TRị BằNG NẹP VíT Tự TIÊU TạI BệNH VIệN RĂNG HàM MặT TRUNG ƯƠNG

ĐặC ĐIểM DịCH Tễ HọC GãY Gò Má CUNG TIếP ở NHữNG BệNH NHÂN ĐIềU TRị BằNG NẹP VíT Tự TIÊU TạI BệNH VIệN RĂNG HàM MặT TRUNG ƯƠNG

ĐặC ĐIểM DịCH Tễ HọC GãY Gò Má CUNG TIếP ở NHữNG BệNH NHÂN ĐIềU TRị BằNG NẹP VíT Tự TIÊU TạI BệNH VIệN RĂNG HàM MặT TRUNG ƯƠNG Và BệNH VIệN VIệT NAM – CU BA

TRƯƠNG MẠNH DŨNG, NGUYỄN DANH TOẢN
TÓM TẮT
Mục tiêu:  Mô tả đặc điểm dịch tễ học gãy xương gò má cung tiếp (GMCT) ở người bệnh vào điều trị tại Bệnh viện RHM Trung Ương  Hà Nội  và Khoa phẫu thuật hàm mặtBệnh viện Việt Nam-Cu ba- Hà Nội.
Phương pháp: Nghiên cứu các trường hợp  gãy xương GMCT được phẫu thuật bằng nẹp vít tự tiêu với kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện  (19 người bệnh)  nhằm mô tả những đặc điểm dịch tễ học qua các biến số nghiên cứu từ hồ sơ bệnh án và mẫu nghiên cứu trực tiếp.
Kết quả: Trong 19 người bệnh gãy xương GMCT  điều trị bằng nẹp vít tự tiêu, nam giới nhiều hơn nữ giới, tỷ lệ nam/nữ là 18/1. Bệnh nhân ở độ tuổi trưởng thành (18-44t) chiếm tỷ lệ 79%, trong đó viên chức nhà nước chiếm tỷ lệ 31,6%,  tai  nạn  chủ  yếu  xáy  ra  ở  thành  thị  chiểm  tỷ  lệ 63,1%. Nguyên nhânhàng đầu là do tai nạn giao thông. 
Kết luận: Nguyên nhân do tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ 94,7% trong đó chủ yếu do xe máy chiếm tỷ lệ 89,5%.. Nam giới bị gãy xương GMCT trong nghiên cứu này chiếm 94,7%, nữ chiếm 5,3%, tỷ lệ nam/nữ 18/1. Nhóm tuổi hay gặp nhất là lứa tuổi trưởng thành (18-44t).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.  Lâm  Ngọc  ấn  (1990),  “Một  số  ý kiến  đề  nghị  bổ xung trong cách phân loại gãy xương khối  mặt”, Kỷ yếu công trình Thành phố Hồ Chí Minh, trang 44-46
2. Lâm Ngọc  ấn và cộng sự (1994),  Chấn thương hàm  mặt  do  nguyên  nhân  thông thường”,  Kỷ  yếu  công trình  khoa  học  1975-1993,  Viện  RHM  TP.HCM,  trang 127- 131
3. Trương Mạnh Dũng (2002), Nghiên cứu lâm sàng và điều trị gãy xương gò má cung tiếp, Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại Học Y Hà Nội, trang 52-110 Y học thực hành (804) – số 1/2012 14
4. Lâm Huyền Trâm (1996), Góp phần nghiên cứu điều trị gãy xương Gò Má bằng phương pháp kết hợp  xương cố định bằng chỉ thép, Luận văn tốt nghiệp Bác Sĩ nội trú, Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Chí Minh, trang 5 – 1 6
5.  Trần  Văn  Trường,  Trương  Mạnh  Dũng  (1999),  “Tình hình chấn thương  Hàm  Mặt tại  viện RHM  Hà  Nội  trong  11 năm (1988-1998)”, Tạp chí Y Học Việt Nam, trang 71-80

 

Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất

Leave a Comment