ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP NHĨ CHÂM TRONG ĐIỀU TRỊ ĐAU VÀ RỐI LOẠN TIỂU TIỆN SAU PHẪU THUẬT TRĨ

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP NHĨ CHÂM TRONG ĐIỀU TRỊ ĐAU VÀ RỐI LOẠN TIỂU TIỆN SAU PHẪU THUẬT TRĨ

LUẬN VĂN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP NHĨ CHÂM TRONG ĐIỀU TRỊ ĐAU VÀ RỐI LOẠN TIỂU TIỆN SAU PHẪU THUẬT TRĨ. Phương pháp châm loa tai là một loại hình thức của châm cứu có tác dụng trong chẩn đoán, điều trị và  dự phòng  ở nhiều nước trên thế giới nhất là các nước Châu Á, châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc….đã lưu truyền phương pháp này.Các thầy thuốc  đã sớm nhận thức được loa  tai có mối liên quan chặt chẽ tới toàn thân, mỗi cơ quan trong cơ thể con  người đều được phản ánh trên loa  tai tại một vùng nhất định. Khi một trong các cơ quan đó bị rối loạn chức năng thì các vùng loa tai tương ứng sẽ có biến đổi như: Thay đổi mầu sắc của da, điện sinh học, rối loạn cảm giác đau, nóng, lạnh….Nếu dùng phương pháp châm, chích, day, dùng yếu tố nhiệt tác động vào đó thì có khả năng điều chỉnh được sự rối loạn chức năng của các cơ quan tương ứng.

Do đặc thù có tính chất nghề nghiệp của ngành, hàng năm bệnh viện YHCT BCA trung bình  có  từ  450  –  500 bệnh  nhân vào  khám  với chẩn  đoán  bệnh  trĩ  và  tuỳ  theo mức  độcủa  bệnh  mà  có  chỉ  định  thắt  trĩ. Trung bình  số  ca phẩu  thuật  trĩ  hàng  năm khoảng  350 –  400 ca. Phương pháp  điều  trị  bằng  phẫu  thuật  là  phương pháp  điều  trị  tiệt  căn, tuy nhiên còn để lại nhiều biến chứng sau mổ như: đau, bí tiểu, phù nề…

Trong đó,  đau vùng hậu môn và rối loạn tiểu tiện là hai triệu chứng thường xảy  ra sau phẫu thuật mổ thắt trĩ.  Những triệu chứng đau đớn, bứt dứt, vật vã, bí bách vùng bàng quang và hậu môn, mót tiểu tiện nhưng không đi được, đứng nằm không yên….Không những ảnh hưởng tới sức khoẻ, giấc ngủ, sinh hoạt của người bệnh mà còn gây tâm lý hoang mang sợ hãi cho những bệnh nhân mang căn bệnh này, là nỗi ám ảnh của thầy thuốc và người nhà chăm sóc họ. Để nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị bệnh nhân. Vì  vậy, tôi nghiên cứu đề tài:  “Đánh giá hiệu quả phương pháp nhĩ châm trong điều trị đau và rối loạn tiểu tiện sau phẫu thuật trĩ” nhằm  mục tiêu sau:  Đánh giá hiệu quả giảm đau và  rối loạn tiểu tiện của phương pháp châm loa tai trong thời kỳ sau 

phẫu thuật trĩ

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU  1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN  2

1.1. Sơ lược về giải phẫu sinh lý, thần kinh hậu môn, trực tràng và bàng 

quang

2

1.1.1. Hậu môn, trực tràng  2

1.1.2. Bàng quang  3

1.2. Nhĩ châm  3

1.2.1. Cơ sở lý luận của nhĩ châm trong YHCT  4

1.2.2. Phân bố thần kinh ở loa tai  5

1.2.3. Những thay đổi bệnh lý ở loa tai khi cơ thể có bệnh  5

1.2.4. Cách phát hiện những thay đổi bệnh lý trên loa tai  6

1.2.5. Phân bố vùng đại biểu trên loa tai  7

1.2.6. Dùng loa tai vào điều trị  10

1.2.7. Dùng loa tai vào chẩn đoán  11

1.3. Tình hình nhĩ châm hiện nay  12

1.3.1. Tại châu Âu  12

1.3.2. Tại châu Á  12

1.3.3. Tại Việt Nam  13

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  14

2.1. Đối tượng nghiên cứu  14

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân  14

2.1.2. Tiêu chuẩn loại bệnh nhân  14

2.2. Phương pháp nghiên cứu  15

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu  15

Thang Long University Library

2.2.2. Phương pháp tiến hành  15

2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi đánh giá kết quả sau 15

2.2.4. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả chung  17

2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu  17

2.3. Đạo đức nghiên cứu  17

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  18

3.1. Đặc điểm lâm sang của bệnh nhân trước điều trị  18

3.2. Kết quả nghiên cứu tác dụng châm loa tai    19

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN  21

4.1. Tính an toàn của phương pháp  21

4.2. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng  21

4.3. Kết quả nghiên cứu của phương pháp nhĩ châm trên chứng đau và rối loạn tiểu tiện của bệnh nhân sau thắt trĩ

KẾT LUẬN   24

KIẾN NGHỊ  25

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1.    Bộ    Y tế    (2006),    Dược lâm sàng, NXB Y học, Hà Nội.
2.    Bộ    Y tế    (2006),    Tương tác thuốc và chú ý khi chỉ định, NXB    Y học, Hà Nội.
3.    Bộ    Y tế    (2007),    Dược lý học, NXB Y học, Hà Nội.
4.    Bộ    Y tế    (2009),    Dược thư quốc gia Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội.
5.    Bộ    Y tế    (2010),    Chăm sóc dược, NXB Y học, Hà Nội.
6.    CMP Medica (2010), Mims cẩm nang sử dụng thuốc.
7.    CMP Medica (2010), Vidal Việt Nam.
8.    CMP Medica (2011), Mims cẩm nang nhà thuốc thực hành.
9.    Cục quản lý dược Việt Nam (2011), “Danh mục thuốc nước ngoài được cấp    số
đăng ký đợt 73”, Danh mục thuốc đã được cấp số đăng ký
10.    Hoàng Kim Huyền và Ngô Chí Dũng (2007), “Ứng dụng phần mềm Martindal trong duyệt tương tác thuốc tại một số khoa của Bệnh viện Bạch Mai”, Tạp chí Dược học, 7(375), tr.8-11.
11.    Nguyễn Thanh Sơn và cộng sự (2011), “Đánh giá sự đồng thuận giữa các cơ sở dữ liệu duyệt tương tác thuốc trong thực hành lâm sàng”, Tạp chí Thông tin Y dược, 11, tr.29-32.
12.     Phạm Thiệp và Vũ Ngọc Thúy (2010), Thuốc biệt dược và cách sử dụng, NXB Y học.
13.    Phí Xuân Anh và cộng sự (2011), “Nghiên cứu đánh giá một số cơ sở dữ liệu thường dùng trong thực hành tra cứu thông tin thuốc tại Việt Nam”, Tạp chí Dược học, 422, tr. 12-15.
14.    Trần Thị Thu Hằng (2011), “Đánh giá thông tin về liều dùng và hiệu chỉnh liều trong các cơ sở dữ liệu tra cứu thông tin thuốc tại Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ, Đại học Dược Hà Nội.

15.    Trung tâm DI & ADR Quốc gia (2009), “Đánh giá năng lực quốc gia về thông tin thuốc và cảnh giác dược”, Báo cáo kỹ thuật dự án gửi văn phòng Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam.

 

Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất

Leave a Comment