ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN BẰNG PHẨU THUẬT NỘI SOI QUA ĐƯỜNG SAU PHÚC MẠC

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN BẰNG PHẨU THUẬT NỘI SOI QUA ĐƯỜNG SAU PHÚC MẠC

 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN  BẰNG PHẨU THUẬT NỘI SOI QUA ĐƯỜNG SAU PHÚC MẠC

                                         

TÓM TẮT

Mục tiêu: Việc phát triển phẩu thuật nội soi qua đường sau phúc mạc là hướng đi thích hợp và có nhiều triển vọng. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả sớm trong điều trị sỏi niệu quản bằng phẩu thuật nội soi qua đường sau phúc mạc.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 30 bệnh nhân bị sỏi niệu quản đoạn lưng từ khúc nối bể thận- niệu quản đến mào chậu được điều trị tại Khoa ngoại Tiết niệu Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại Học Y- Dược Huế từ tháng 10/2004 đến tháng 6/2006. Bơm khí trời vào bao cao su để bóc tách khoang sau phúc mạc hông lưng và bơm khí CO2 để tạo khoảng trống làm việc, đặt 3 hoặc 4 Trocar với Trocar cho ống kính nằm phía trên mào chậu khoảng 1-2cm và trên đường nách giữa, 2 Trocar cho thao tác trên đường nách trước. Đánh giá kết quả ngay trong thời gian hậu phẩu gần.
Kết quả: 30 bệnh nhân với 15 nam và 15 nữ, tuổi trung bình 39,66 ±9,21, mổ lấy ra 15 viên sỏi bên phải và 15 viên sỏi bên trái, chiều dài trung bình viên sỏi là 17,8 ±3,1mm, chiều ngang trung bình của viên sỏi là 9,8 ±3,3mm.Vị trí viên sỏi: ngang LII: 3, ngang LIII: 16, ngang LIV: 8, ngang LV: 3. Trên siêu âm có 5 trường hợp thận ứ nước độ I, 16 trường hợp thận ứ nước độ II, và 9 trường hợp thận ứ nước độ III. Kết quả phẩu thuật:Thể tích khí trời bơm trung bình là 430 ± 65,32ml, dùng 3 trocar 26 trường hợp, dùng 4 trocar 4 trường hợp, đặt nòng niệu quản 16 trường hợp. Thời gian mổ trung bình 112,5 ± 27,34 phút. Thời gian dùng thuốc giảm đau sau mổ trung bình 2,28 ± 0,9 ngày, bệnh nhân phục hồi sinh hoạt sau mổ trung bình 29,14 ± 14,13 giờ, thời gian trung bình rút ống dẫn lưu là sau 3,28 ± 1,31 ngày, thời gian  nằm viện hậu phẩu 4,64 ± 1,85 ngày. Có 2 trường hợp phải chuyển mổ hở, cả 2 trường hợp này đều do nguyên nhân không tìm ra được niệu quản. Về biến chứng: Có 1 trường hợp chảy máu nặng phải chuyền máu, 3 trường hợp rách phúc mạc, 3 trường hợp tràn khí dưới da, và 2 trường hợp dò nước tiểu kéo dài tạm thời.
Kết luận: Tỉ lệ thành công là 93,3% ( 28/30), tỉ lệ chuyển mổ hở 6,7% ( 2/30), biến chứng sau mổ ít. Phẩu thuật mở niệu quản đoạn trên lấy sỏi là tương đối dễ thực hiện và hiện nay đã thành thường quy, thường chỉ định cho sỏi niệu quản đoạn trên lớn, dính chặt, sỏi tiên lượng khó khi tán sỏi bằng nội soi niệu quản. Đây là một phẩu thuật ít xâm nhập, hiệu quả và có tính thẩm mỹ cao.
 

 

Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất

Leave a Comment