Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh bụi phổi silic của người lao động tại một công ty thuộc tỉnh Hải Dương năm 2018

Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh bụi phổi silic của người lao động tại một công ty thuộc tỉnh Hải Dương năm 2018

Khoá luận tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh bụi phổi silic của người lao động tại một công ty thuộc tỉnh Hải Dương năm 2018. Ở Việt Nam, theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng phát triển nhiều ngành, nghề. Mỗi ngành, nghề có đặc thù riêng, có những yếu tố tác hại nghề nghiệp riêng. Tại Việt Nam, cho đến năm 2016, đã có 34 bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội. Bệnh bụi phổi silic (BPSi) là bệnh đã được công nhận đền bù tại Việt Nam từ năm 1976 [1]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh BPSi là một trong các bệnh nghề nghiệp lâu đời nhất. Hiện nay, hàng năm vẫn có hàng ngàn người tử vong vì bệnh này trên khắp thế giới. Bệnh BPSi là một bệnh gây ra do người lao động hít phải bụi có chứa silic tự do. Đây là bệnh tiến triển không hồi phục, thậm chí cả khi đã ngừng tiếp xúc với bụi. Nếu tiếp xúc với một lượng lớn bụi, có hàm lượng silic tự do trong bụi cao, trong một thời gian ngắn đã có thể phát sinh bệnh. Vì vậy phòng bệnh BPSi là rất quan trọng.


Nhiều năm qua, bệnh BPSi luôn đứng đầu trong các bệnh nghề nghiệp được báo cáo ở hầu hết các nước trên thế giới. Theo WHO, tỷ lệ hiện mắc bệnh BPSi ở các nước đang phát triển trong số người lao động (NLĐ) làm nghề phải tiếp xúc với bụi silic vào khoảng 20-50% [2]. 
Bệnh BPSi là bệnh phổi nghề nghiệp phổ biến nhất tại Việt Nam. Bệnh chiếm tỷ lệ 88% trong tất cả các trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp được giám định tại Việt Nam trong giai đoạn 1976 – 1997 [3]. Cho tới nay, theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường Y tế, bệnh BPSi vẫn là một trong số bệnh nghề nghiệp thường gặp nhất tại Việt Nam và có xu hướng chưa giảm theo thời gian. Tính cho tới năm 2016, chỉ có 5.855 người khám bệnh BPSi, có 325 người được chẩn đoán mắc bệnh BPSi trên toàn quốc, chiếm 5,5% [4]. Trong các ngành công nghiệp có nguy cơ phát sinh bệnh, ước tính có khoảng nửa triệu người lao động phải tiếp xúc nghề nghiệp với bụi phổi silic. Qua một số điều tra dịch tễ học, tỷ lệ hiện mắc được ước tính là 4%. Như vậy có thể ước tính cả nước hiện nay khoảng trên dưới 20.000 NLĐ mắc bệnh BPSi [2].
Vì tính chất phổ biến và nghiêm trọng của bệnh BPSi, Tổ chức y tế thế giới và Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đặc biệt chú ý đến việc phòng chống bệnh BPSi. Nhằm thúc đẩy sự hợp tác quốc tế rộng rãi trong lĩnh vực này, năm 1995, ILO và WHO đã đưa ra Chương trình thanh toán bệnh bụi phổi silic trên phạm vi toàn cầu với mục tiêu giảm tỷ lệ mới mắc bệnh BPSi (đến năm 2010) và thanh toán bệnh (đến năm 2030). Để hưởng ứng chương trình toàn cầu của ILO/WHO, nhà nước ta đã cho phép ngành y tế thực hiện dự án: “Kế hoạch hành động quốc gia phòng chống bệnh bụi phổi silic” và dự án này đã được triển khai năm 1999. 
Hiện nay, trình độ khoa học kĩ thuật phát triển nhưng bệnh BPSi vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Tuy nhiên, bệnh BPSi là bệnh có thể dự phòng được. Do vậy, việc dự phòng thích hợp tiến tới thanh toán bệnh BPSi là nhiệm vụ cấp bách, to lớn và đặt lên hàng đầu của ngành Y tế và các nhà quản lí. 
Hải Dương là tỉnh có tiềm năng rất lớn về khoáng sản vật liệu xây dựng, trong đó, đáng chú ý nhất là đá vôi xi măng, sét xi măng, phụ gia xi măng, sét trắng, cao lanh, sét chịu lửa và các khoáng sản sản xuất vật liệu xây dựng thông thường như đá xây dựng, đất sét gạch ngói, cát xây dựng… Sản xuất vật liệu xây dựng đã trở thành ngành công nghiệp quan trọng, đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Các vấn đề về tình hình bệnh tật liên quan đến môi trường lao động (MTLĐ) vẫn đang là mối lo ngại không nhỏ trong NLĐ cũng như các nhà quản lý lao động tại địa phương. Công ty xi măng Phúc Sơn là công ty thuộc tỉnh Hải Dương với số lượng lớn NLĐ làm việc tại nhà máy và đang phải tiếp xúc trực tiếp với bụi phổi silic. 
Hiện nay, đã có một số nghiên cứu về tình hình bệnh bụi phổi silic trên cả nước nhưng tại tỉnh Hải Dương thì còn hạn chế. Mặt khác, nghiên cứu đề cập đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh bụi phổi silic tại địa phương là chưa có. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh bụi phổi silic của người lao động tại một công ty thuộc tỉnh Hải Dương năm 2018” với 2 mục tiêu:
1.    Mô tả kiến thức, thái độ về phòng bệnh bụi phổi silic của người lao động tại một công ty thuộc tỉnh Hải Dương năm 2018.
2.    Mô tả thực hành về phòng bệnh bụi phổi silic của người lao động tại một công ty thuộc tỉnh Hải Dương năm 2018.
MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ    1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU    4
1.1. Khái niệm chung    4
1.2. Tình hình mắc bệnh bụi phổi silic và yếu tố nguy cơ.    8
1.3. Phòng bệnh bụi phổi silic trong nhà máy xi măng.    11
1.4. Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh bụi phổi silic.    13
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU    15
2.1. Địa điểm nghiên cứu    15
2.2. Thời gian nghiên cứu    16
2.3. Đối tượng nghiên cứu:    16
2.4. Phương pháp nghiên cứu:    17
2.5. Biến số, chỉ số    18
2.6. Công cụ và phương pháp thu thập thông tin.    23
2.7. Xử lý số liệu    25
2.8. Sai số nghiên cứu    25
2.9. Đạo đức nghiên cứu.    26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU    27
3.1.    Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu    27
3.2.    Mô tả kiến thức, thái độ về phòng chống bệnh bụi phổi silic    29
3.3.    Mô tả thực hành về phòng chống bệnh bụi phổi silic    37
Chương 4: BÀN LUẬN    45
4.1.    Thông tin chung    45
4.2.    Kiến thức, thái độ về phòng bệnh bụi phổi silic của người lao động tại một công ty thuộc tỉnh Hải Dương năm 2018.    46
4.3.    Thực hành về phòng bệnh bụi phổi silic của người lao động tại một công ty thuộc tỉnh Hải Dương năm 2018.    52
4.4.    Bàn luận về hạn chế của đề tài.    59
KẾT LUẬN    60
KHUYẾN NGHỊ    62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Trị số nồng độ tối đa cho phép bụi hạt    5
Bảng 1.2. Trị số nồng độ tối đa cho phép bụi khối lượng    6
Bảng 3.1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu    27
Bảng 3.2. Kiến thức về chế độ bảo hiểm của bệnh bụi phổi silic    29
Bảng 3.3. Kiến thức về khả năng gia tăng bệnh bụi phổi silic khi làm việc trong môi trường nhiều bụi    29
Bảng 3.4. Kiến thức về phòng bệnh bụi phổi silic    30
Bảng 3.5. Kiến thức về các cách phòng tránh bệnh bụi phổi silic    30
Bảng 3.6. Kiến thức về thời gian tiếp xúc ngắn nhất với bụi silic trong quá trình môi tường lao động để có thể gây bệnh bụi phổi silic.    32
Bảng 3.7. Thái độ đúng về sự nguy hiểm của bệnh bụi phổi silic    34
Bảng 3.8. Thái độ về khả năng mắc bệnh của bệnh bụi phổi silic tại phân xưởng đang làm việc    35
Bảng 3.9. Thái độ về khả năng chữa khỏi của bệnh bụi phổi silic    35
Bảng 3.10. Thái độ của NLĐ về việc tiếp xúc với người mắc bệnh    35
Bảng 3.11. Thực trạng loại khẩu trang sử dụng    38
Bảng 3.12. Thực trạng mức độ sử dụng các loại bảo hộ lao động    39
Bảng 3.13. Thực trạng phòng chống bụi tại phân xưởng.    39
Bảng 3.14. Thực trạng khám sức khỏe định kỳ của NLĐ    40
Bảng 3.15. Thực trạng khám bệnh nghề nghiệp cuả NLĐ    40
Bảng 3.16. Thực trạng NLĐ phòng chống bệnh bụi phổi silic hiện tại    41
Bảng 3.17. Thực trạng tiếp cận thông tin về bệnh bụi phổi silic    41
Bảng 3.18. Thực trang nguồn thông tin đã tiếp nhận về bệnh bụi phổi    42
Bảng 3.19. Nhu cầu tiếp nhận thông tin về bệnh bụi phổi silic    42
Bảng 4.1. Kiến thức và thực hành phòng bệnh BPSi.    53
Bảng 4.2. Thực trạng và nhu cầu tiếp nhận thông tin về phòng bệnh BPSi    57

Nguồn: https://luanvanyhoc.com

Leave a Comment