MÔ HÌNH BỆNH TẬT BỆNH NHÂN NỘI TRÚ BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2007 – 2011
Xác định mô hình bệnh tật làm cơ sở quan trọng cho việc định hướng phát triển y tế địa phương, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh phù hợp. Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng mô hình bệnh tật của bệnh nhân nội trú bệnh viện đa khoa huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang năm 2007 – 2011. Kết quả cho thấy mô hình bệnh tật nổi bật với 4 chương: cao nhất là chửa, đẻ và sau đẻ (25,1%/ năm); thứ hai là bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng (23,50%/năm); thứ ba và thứ tư là bệnh hệ hô hấp và bệnh hệ tuần hoàn (17,0% và 13,60% /năm). Mô hình bệnh tật theo 3 nhóm bệnh: nhóm lây nhiễm năm 2011 giảm so với năm 2009 (60,3% giảm còn 48,6%); nhóm không lây nhiễm năm 2011 tăng so với năm 2009 (38,4% tăng lên 50,2%). nhóm tai nạn, ngộ độc, chấn thương giảm dần qua 3 năm (3,8% giàm còn 1,3% và 1,2%). Tổng số mắc 10 bệnh có có tỷ lệ mắc cao nhất chiếm tỷ lệ khá cao (63,5%) trong tổng số trường mắc toàn bệnh viện, trong đó đẻ một thai tự nhiên luôn ở vị trí cao số 1. Bệnh tiêu chảy, viêm dạ dày ruột do nhiễm khuẩn; bệnh sốt xuất huyết dengue và bệnh viêm phổi không xác định nhiễm khuẩn có vị trí cao thứ 2 (tương ứng năm 2007; 2009 và 2011).
Xác định mô hình bệnh tật là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế địa phương, là một cơ sở quan trọng cho việc định hướng phát triển, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh phù hợp. Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều phương pháp xác định mô hình bệnh tật đã được áp dụng như: mô hình bệnh tật dựa trên điều tra tình hình ốm đau của cộng đồng; mô hình bệnh tật theo nguyên nhân tử vong; mô hình bệnh tật dựa trên số liệu từ sổ sách khám chữa bệnh của các tuyến y tế; mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện v.v…
Mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện được xác định chỉ là “phần nổi của tảng băng”. Khi bị ốm người dân có thể không chữa gì, hoặc đến trạm y tế xã, bệnh viện các tuyến, các phòng khám hay bệnh viện tư nhân hay tự mua thuốc về điều trị (52,9%). Tỷ lệ đến khám bệnh tại trạm y tế, các bệnh viện khoảng 47,1% số trường hợp ốm [1], một phần trong số này là các trường hợp ốm phải nhập viện. Số liệu về bệnh tật qua các báo cáo thống kê của bệnh viện theo ICD- 10 (Intenational Classification of Diseases – 10) chỉ mới phản ánh được một phần mô hình bệnh tật của một địa phương [2].
Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất