Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh chảy máu nội sọ trẻ em từ sơ sinh đến 15 tuổi tại bệnh viện nhi Trung Ương

Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh chảy máu nội sọ trẻ em từ sơ sinh đến 15 tuổi tại bệnh viện nhi Trung Ương

Bệnh chảy máu nội sọ là một cấp cứu thường gặp với tỷ lệ tử vong cao và nhiều di chứng thần kinh. bệnh có đặc điểm lâm sàng, sinh học, tổn thương bệnh lý và nguyên nhân theo nhóm tuổi. ở trẻ sơ sinh, nguyên nhân gây bệnh thường do các chấn thương sọ não trong sinh, các rối loạn đông máu  bẩm  sinh  hay  mắc  phải,  ngạt  do  nhiều nguyên nhân, đặc biệt bệnh hay xảy ra ở trẻ đẻ non, thấp cân. ở trẻ nhỏ thời kỳ bú mẹ, nguyên nhân  phần  lớn  do  thiếu  vitamin  k.  theo  các nghiên cứu từ châu á, bệnh có tỷ lệ 35 – 70 trẻ trên 100000 trẻ sinh [6]. ở trẻ từ 1 – 15 tuổi nguyên nhân thường gặp là do dị dạng mạch máu não. theo john h. và harvey b. , nhóm bệnh này có tỷ lệ 2,5/100000 trẻ hàng năm [7]. để tìm hiểu cơ cấu bệnh chảy máu trong sọ ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:

1. đánh giá sự phân bố của bệnh chảy máu nội sọ ở trẻ em theo nhóm tuổi.

2. tìm hiểu một số  đặc điểm dịch tễ  liên quan đến bệnh.

II. đối   tượng   và   phương    pháp nghiên cứu sử dụng chương trình epi – inpo 6.04 trên máy vi tính để phân tích số liệu

III. kết quả nghiên cứu

1. số bệnh nhi cmns và số  bệnh nhi  khoa thần kinh và tổng số bệnh nhi vào viện có 621 trẻ bị cmns nhập viện, trung bình mỗi năm có đến 200 trẻ. số trẻ mắc bệnh năm 2000 là  242 trẻ/ 1.326 (18,3%) trẻ mắc các  bệnh  nội khoa thần kinh nhập khoa; năm 2001 là 177 trẻ/1425  (12,4%)   và  năm 2002 là  202 trẻ/1478 trẻ (13,5%). ước khoảng100 trẻ mắc bệnh vào khoa thần kinh có 18 trẻ bị chảy máu trong sọ. nếu tính số trẻ mắc cmns so với tổng số trẻ nhập bv nhi theo các năm trên thì theo thứ tự là 1,2%, 0,7%, và 0,8% trường hợp.

2. phân bố bệnh nhi vào viện theo địa phương số bệnh nhi nhập viện từ 24 tỉnh, thành phố của phía bắc và tỉnh lâm đồng của phía nam. mot số

1. đối tượng nghiên cứu

621  bệnh nhi  được chẩn đoán trong  sọ tại tỉnh có nhiều bệnh nhi vào viện là hà tây (188 bệnh nhi: 30,3%), hưng yên (70: 11,3%), nam hà (53: bệnh viện nhi  trung  ương  từ 01/01/2000  đến 8,5%), hà noi (51: 8,2%), bắc ninh và vĩnh phúc 31/12/2002 được chọn nghiên cứu.

2. phương pháp nghiên cứu

phương pháp nghiên cứu mô tả, hồi cứu. số bệnh nhi được phân theo nhóm tuổi: trẻ sơ sinh trong 28 ngày đầu; trẻ thời kỳ bú mẹ từ 29 ngày đến 12 tháng;  trẻ từ thời kỳ răng sữa (1 – 6 tuổi) đến trẻ ở tuổi thiếu niên (7 – 15 tuổi). số liệu được thu thập theo mẫu phiếu thống nhất. có số bệnh nhi tương đương (39: 6,3%).

Mục tiêu: Đánh giá sự phân bố của bệnh chảy máu nội sọ (CMNS) ở các nhóm tuổi của trẻ em và một số đặc điểm dịch tễ liên quan đến nguyên nhân gây bệnh. Phương pháp: Sử dụng số liệu hồi cứu 621 trẻ được chẩn đoán bệnh chảy máu nội sọ trong 3 năm (2000, 2001, 2002) tại bệnh viện Nhi Trung Ương. Kết quả: Có 200 trẻ nhập viện mỗi năm. Nhóm trẻ sơ sinh có 97 (15,6%) và tử vong 35 (36,1%) bệnh nhi; trẻ sơ sinh ở 24 giờ tuổi thường gặp nhất (40%). Một số đặc điểm dịch tễ liên quan đến nguyên nhân là trẻ sơ sinh đẻ non, chấn thương sọ não do đẻ can thiệp, thai to trên 3500 gam, rối loạn đông máu bẩm sinh hay mắc phải. Nhóm trẻ bú mẹ có 469 (75,5%) và 52 (11,1%) bệnh nhi tử vong; trẻ ở tuổi từ 29 ngày đến 3 tháng thường gặp nhiều nhất (93,2%) trẻ; nguyên nhân của bệnh có thể do rối loạn đông máu (82,9%) và ứ mật (6,2%). Nhóm trẻ từ 1 – 15 tuổi có 55 (8,9%) và tử vong 4 (7,3%). Trẻ ở tuổi thiếu niên thường gặp nhất (83,6%), nguyên nhân của bệnh có thể là do dị dạng mạch máu não. Kết luận: Có khác nhau về sự phân bố, tỷ lệ tử vong và đặc điểm dịch tễ liên quan đến nguyên nhân bệnh giữa các nhóm tuổi ở trẻ em.
 

Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích

Leave a Comment