Một số đặc điểm nhân trắc của phụ nữ mãn kinh Cần Thơ
Trong thời kỳ mãn kinh, cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi về hình thái do giảm estrogen và thay đổi lối sống. Mục tiêu: (1) Mô tả một số đặc điểm hình thái. (2) Xác định tỷ lệ béo phì của phụ nữ mãn kinh Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp: Phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích trên 768 phụ nữ mãn kinh tự nhiên và 768 phụ nữ sinh sản 25 – 39 tuổi làm nhóm chứng. Kết quả: Phụ nữ mãn kinh có chiều cao giảm trong khi cân nặng, BMI, kích thước các vòng ngực, eo, mông, tỷ số vòng eo/vòng mông, khối mỡ tăng; bề dày lớp mỡ dưới da mông, đùi giảm nhưng lại tăng ở bụng; tỷ lệ béo phì là 30,8%, béo phì trung tâm là 43%. Kết luận: Phụ nữ mãn kinh có sự thay đổi rõ rệt về đặc điểm nhân trắc so với phụ nữ ở độ tuổi sinh sản. Tỷ lệ béo phì ở phụ nữ mãn kinh tăng và lượng mỡ thừa tập trung chủ yếu ở vùng bụng.
Theo phân định các thời kỳ phát triển cá thể, giai đoạn mãn kinh được xếp vào thời kỳ suy thoái. Sự lão hóa xảy ra trong thời kỳ này vây bọc tất cả cơ quan và hệ thống của cơ thể cả về hình thái lẫn chức năng. So với nam giới, chiều cao ở nữ ngừng tăng sớm hơn. Thời kỳ ổn định chiều cao của phụ nữ rơi vào khoảng 25 – 29 tuổi, sau đó chiều cao giảm trung bình 0,49 – 0,52cm trong từng 5 năm một. Sau 30 tuổi, bộ xương không dài thêm, các phủ tạng không nặng thêm, khối nạc không tăng lên mà dừng lại và giảm dần. Cân nặng sau 30 tuổi có liên quan đến khối mỡ dự trữ, khối mỡ này phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng, chế độ lao động, điều kiện vệ sinh và phương thức chuyển hóa [5]. Ngoài ra, trong thời kỳ mãn kinh còn có sự tăng rõ rệt tỷ lệ mỡ ở các vùng trên và trung tâm của cơ thể (android fat), giảm tỷ lệ mỡ ở phần thấp của cơ thể (gynoid fat). Sự thay đổi hình thể này có thể là dấu hiệu cảnh báo cho nhiều nguy cơ bệnh lý xuất hiện [9]. Nhằm góp phần tìm hiểu những thay đổi hình thể ở người phụ nữ mãn kinh chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với các mục tiêu:
1. Mô tả một số đặc điểm hình thái của phụ nữ mãn kinh Cẩn Thơ.
2. Xác định tỷ lệ béo phì của phụ nữ mãn kinh Cần Thơ.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng
Những phụ nữ đang sống tại thành phố Cần Thơ và được chia thành 2 nhóm: nhóm chủ cứu gồm 768 phụ nữ mãn kinh (PNMK) tự nhiên và nhóm chứng gồm 768 phụ nữ sinh sản (PNSS) độ tuổi 25 – 39 hiện đang có kinh nguyệt bình thường. Không đưa vào nghiên cứu tất cả những đối tượng đang mắc bệnh cấp tính hoặc đang dùng bất cứ loại thuốc nào.
2. Các chỉ số nghiên cứu
Chiều cao (CC), cân nặng (CN); vòng ngực (VN), vòng eo (VE), vòng mông (VM), tỷ số VE/ VM; chỉ số BMI, chỉ số khối nạc, khối mỡ; bề dày lớp mỡ dưới da (BDLMDD): Vai, cánh tay, bụng, mông, đùi.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích
3.2. Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu vào buổi sáng, các đối tượng nhịn ăn sáng và đã đi vệ sinh.
CC, CN và các vòng: Dùng cân và thước dây Trung Quốc chính xác đến 1cm và 0,1Kg. Đo CC: Đối tượng đứng thẳng 4 điểm chẩm, lưng, mông và gót chân tạo thành đường thẳng vuông góc với mặt đất. Đo CN: Đối tượng mặc quần áo mỏng. Đo VN: Đối tượng hít thở bình thường, vòng đo đi qua chân của quầng vú hai bên. Đo VE: vòng đo nằm giữa mạng sườn và mào chậu hai bên, đo ở cuối thì thở ra. Đo VM: Vòng đo ngang qua 2 mấu chuyển lớn xương đùi. Chỉ số BMI tính theo công thức: BMI(Kg/m2) = CN(Kg)/[CC(m)]2. Khối nạc, mỡ ở nữ tính theo công thức của Nguyễn Quang Quyền và Lê Gia Vinh:
Khối mỡ (Kg) = 8,29 x CC(m) x [VE(m)]2 + 3,86
Khối nạc (Kg) = CN(Kg) – khối mỡ (Kg)
– Béo phì trung tâm khi tỷ số VE/VM >0,85 ở nữ.
– Béo phì được chẩn đoán theo phân loại BMI mà WHO đã khuyến cáo sử dụng cho các quốc gia Châu Á: <18,5 là gầy, 18,5 – 22,9 là bình thường, 23 – 24,9 là nguy cơ béo, 25 – 29,9 là béo độ I, >30 là béo độ II.
BDLMDD: thước đo loại compa Harpenden Skinfold Caliper chính xác đến 0,1 mm. Đo ở 5 điểm bên trái theo sơ đồ Erdheim: Mỏm cùng vai, sau – giữa cánh tay, cạnh rốn, giữa mông, giữa cơ tứ đầu đùi.
Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích