Một số nhận xét về tình hình sức khoẻ và bệnh tật ở Học sinh Kh’mer – Kiên Giang
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hôi, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí con người, xem đây là đông lực quan trọng. Điều đó khẳng định cẩn phải có chính sách giáo dục, cải tạo con người phát triển hài hoà về thể chất, tinh thẩn và xã hôi.
Sức khoẻ và thể chất được quan tâm chăm sóc sớm sẽ là chất lượng, là nguồn tài sản quý báu của mọi quốc gia, là sản phẩm phản ánh môt số’ khách quan thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học.
Thực trạng sức khoẻ của học sinh, sinh viên nước ta nói chung, của đồng bào dân tôc nói riêng đã có nhiều tài liêu đề cập đến nhưng chưa đẩy đủ và hê thống, các công trình nghiên cứu hẩu hết chỉ thực hiên ở các tỉnh phía Bắc.
Kiên Giang là tỉnh cực Tây Nam của tổ quốc có số học sinh phổ thông hơn 300.000, trong đó số học sinh người Kh’mer có 24.000 (8%) cùng học chung các trường với người Kinh trong môt số huyên.
Để có những căn cứ khoa học về phát triển thể lực của học sinh người Kh’mer so với học sinh người Kinh ở cùng đô tuổi, cũng như phát hiên môt số bênh thường gặp ở học đường. Chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm các mục tiêu sau:
1- So sánh chiều cao đứng, cân nạng của học sinh Kh’mer từ 6-14 tuổi đang học tại các trường phổ thông ở Kiên Giang với học sinh người Kinh cùng lứa tuổi.
2- Phát hiên môt số nhóm bênh thường gặp trong lứa tuổi học sinh phổ thông Kh’mer và có so sánh với học sinh người Kinh cùng lứa tuổi.
3- Đề xuất những biên pháp can thiêp nhằm giảm bớt yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ .
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
Tiến hành nghiên cứu ở lứa tuổi học sinh từ 6-14 ở 35 trường trong 6 huyên có học sinh Kh’mer. Mỗi huyên chọn 1 trường thị trấn và 1¬3 trường cách thị trấn từ 2-20 km. Lấy học sinh người Kinh có cùng đô tuổi và học cùng trường để so sánh.
Quẩn thể nghiên cứu gồm: 10.595 học
sinh,
Trong đó: Học sinh nam: 5.306 gồm
Kinh 3150, Kh’mer 2156
Học sinh nữ: 5.290 gồm Kinh 2983, Kh’mer 2307
Thời gian nghiên cứu: 1998 – 2000.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nhân trắc học: Dựa vào phương pháp nghiên cứu và đo đạc của Giáo sư Nguyễn Quang Quyền [1] để khảo sát môt số chỉ số phát triển thể lực sau đây:
Đo chiều cao đứng bằng thước đo của Trung tâm nghiên cứu thiết bị trường học Bô giáo dục và Đào tạo sản xuất và theo đúng phương pháp của Vụ Vê sinh Môi trường – Bô Y tế.
Cân trọng lượng cơ thể bằng cân xách tay Nhật hiệu TANITA mới 100%.
Khám sức khoẻ: do các bác sỹ chuyên khoa khám lâm sàng trong điều kiện tối ưu nhất và được tập huấn thống nhất tiêu chuẩn định trước đó. Sau khi khám thí điểm ở một trường, có điều chỉnh lại thao tác khám và bổ sung dụng cụ khám để bảo đảm độ chính xác cao.
Bảng 1: Chiều cao (cm)
Phương pháp thống kê: Khi khám, cân đo ghi vào các mầu phiếu cho từng học sinh. Các số’ liệu sau khi khám được xử lý trên máy vi tính dựa trên phẫn mềm EPIINFO 6.2 tại phòng Vi tính viện Vệ sinh y tế’ công cộng và trường trung học Y tế’ Kiên Giang.
Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích