Một số nhận xét về ung thư tử cung tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2007 – 2008
Khối u ác tính ở tử cung gồm nhiều bệnh lý khác nhau, hay gặp nhất là ung thư niêm mạc tử cung trong đó adenocarcinoma chiếm 70 – 80%. Các tổn thương ác tính khác hiếm gặp hơn như ung thư tế bào sáng, ung thư thanh mạc dạng nhú, ung thư dạng nhày… và ung thư cơ tử cung (carcinosarcoma) chỉ chiếm khoảng 2- 3% [1, 7].
Nguyên nhân ung thư niêm mạc tử cung đến nay vẫn không rõ, nhưng một số yếu tố thuậnlợi, trong đó vai trò của oestrogen được xếp hàng đầu. Ung thư niêm mạc tử cung liên quan trực tiếp và tỷ lệ thuận với sự tăng nồng độ estrogen nội sinh cũng như ngoại sinh, cùng với thời gian kích thích kéo dài, tỷ lệ ung thư niêm mạc tử cung cao gấp 4 tới 8 lần ở những phụ nữ có sử dụng estrogen thay thế và trong hội chứng buồng trứng đa nang. Ung thư niêm mạc tử cung là bệnh ác tính đường sinh dục hay gặp nhất tại các nước phát triển, hay gặp ở những phụ nữ từ 50 – 70 tuổi đã mãn kinh, tuy nhiên cũng có tới khoảng 15 – 25% các trườnghợp ung thư niêm mạc tử cung gặp ở các phụ nữ trong thời kỳ tiền mãn kinh, tiên lượng thường tốt nếu được phát hiện sớm và điều trị sớm [2].Ung thư niêm mạc tử cung thường diễn ra một cáchâm thầm nhưng có khoảng 10% có cảm giác khóchịu ở vùng bụng dưới và có thể có đau do cổ tử cung bị thâm nhiễm, chít hẹp khiến tử cung bị giãn căng ra. Nếu các chất hoại tử trong tửcung bị nhiễm trùng và áp xe thì thậm chí bệnh nhân có thể bị nhiễm trùng huyết [2, 7].
Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích