Một số tiến bộ mới trong điều trị bệnh ung thư

Một số tiến bộ mới trong điều trị bệnh ung thư

Điều trị ung thư ngày càng có nhiều tiến bộ nhờ thành tựu của các ngành khoa học cơ bản, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin cùng với các máy móc chính xác, tinh xảo. Trong ngành ngoại khoa đang có xu hướng tăng tỷ lệ phẫu thuật bảo tồn, phẫu thuật nội soi, và phẫu thuật tạo hình nhằm nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Những tiến bộ về xạ trị đã giúp chúng ta có thể tiêu diệt chính xác khối u với liều mong muốn, giảm thiểu được tác dụng phụ đối với mô lành của cơ thể. Các phương pháp điều trị vật lý khác như điều trị bằng nhiệt độ cao, quang hoá trị liệu ngoài cơ thể, quang động học liệu pháp cũng góp phần vào cuộc chiến chống ung thư. Các phương pháp điều trị tế bào, điều trị đích là những tiến bộ vượt bậc nhằm phá vỡ những rào cản mà các phương pháp điều trị thông thường gặp phải.

Cùng với những tiến bộ trên thế giới, điều trị ung thư ở Việt Nam đã từng bước phát triển với nhiều thành tựu đạt được là nâng cao tỷ lệ chữa khỏi bệnh, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư.

I. MỞ ĐẦU

Với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học cơ bản, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, điều trị bệnh ung thư đã có những bước tiến quan trọng trong những năm gần đây. Ngoài 3 vũ khí chính để điều trị ung thư là phẫu thuật, xạ trị, điều trị hoá chất, các phương pháp mới đã hình thành và được đưa vào áp dụng trong điều trị như điều trị gen, chuyển ghép tế bào nuôi cấy, các liệu pháp nhằm trúng đích .v.v.

Bên cạnh việc phát triển những hướng đi mới, các nhà khoa học cũng đang từng bước nâng cao hiệu quả điều trị của các phương pháp “truyền thống”. Trong xạ trị, nhiều kỹ thuật cải tiến đã được nâng cao với các thế hệ máy ngày càng tối tân để có thể tiêu diệt khối u được nhiều nhất, trong khi các mô kế cận được bảo vệ tốt nhất, nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân. Trong điều trị toàn thân, ngày càng có nhiều thuốc mới ra đời với tác dụng diệt tế bào u cao hơn trong khi giảm thiểu tác dụng phụ. Một số tiến bộ có thể kể được nêu tóm tắt đây.

II. NHỮNG  TIẾN  BỘ  TRÊN  THẾ  GIỚI PHẪU THUẬT

Phẫu thuật là phương pháp điều trị ung thư lâu đời nhất và cho đến nay vẫn là phương pháp quan trọng để loại bỏ khối u trong nhiều loại ung thư. Nhờ có phối hợp với xạ trị và hóa trị, các phương  pháp phẫu  thuật bảo  tồn  ngày  càng được mở rộng nhằm giữ được chức năng của cơ quan, bộ phận có khối u cũng như đảm bảo được thẩm mỹ. Bên cạnh đó là xu hướng phẫu thuật tạo hình-phục hồi chức năng nhằm khôi phục lại hình dạng, chức năng của cơ quan bị ung thư biến đổi sau điều trị. Phẫu thuật bảo tồn và phẫu thuật tạo hình-phục hồi chức năng đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Trong những năm gần đây, phẫu thuật nội soi đã phát triển mạnh mẽ nhờ những tiến bộ về kỹ thuật, phương tiện hiện đại như quan sát dưới sự trợ giúp của video, siêu âm nội soi ổ bụng (laparoscopic intracorporeal ultrasonography- LICU), hoặc siêu âm qua nội soi (endoscopic ul- trasonography- EUS), các cánh tay rô-bôt. Nội soi can thiệp có thể điều trị khỏi nhiều loại ung thư khi được phát hiện ở giai đoạn sớm, kể cả khi chưa có dấu hiệu lâm sàng như cắt hớt niêm mạc trong ung thư dạ dày, khoét chóp cổ tử cung, cắt polyp xoang mũi v.v.

Đối với các trường hợp u lớn nhưng còn có thể cắt bỏ, phẫu thuật nội soi cũng có thể thực hiện được như cắt tiền liệt tuyến, cắt thận, cắt đoạn đại  tràng, cắt  nửa  đại  tràng, cắt  lách.

Những nơi có trang thiết bị tốt đã có thể cắt khối tá tụy qua nội soi, cắt thực quản. Trong điều trị giảm nhẹ, phẫu thuật qua nội soi có thể thực hiện được một số thủ thuật như nối tắt trong các trường hợp tắc ruột, mở thông dạ dày – hỗng tràng trong ung thư dạ dày, ung thư tụykhông cắt bỏ được giúp giảm đau nhanh, phục hồi lưu thông tiêu hóa.

III. XẠ TRỊ

Xạ trị đã được sử dụng như một trong ba vũ khí chính để điều trị ung thư từ hơn một thế kỷ nay ngay sau khi nhân loại phát hiện ra tia X. Tiếp theo nhờ phát hiện ra các chất phóng xạ mà nhiều loại ung thư đã được chữa trị theo phương pháp này. Tuy vậy, xạ trị cũng làm tổn hại đến các tế bào lành. Các tiến bộ gần đây đi sâu vào thiết kế các thiết bị ngày càng tinh xảo, chính xác để có thể đưa chùm tia đến đúng vị trí, theo đúng hình dạng khối u để nâng cao hiệu quả xạ trị, tránh tối đa các tổn hại mô xung quanh khối u.

Một hướng khác là tìm các nguồn bức xạ năng lượng cao, có khả năng đâm xuyên mạnh để tiêu diệt các khối u ở sâu trong cơ thể trong khi hạn chế tổn thương mô lành trên đường đi của tia. Các tiến bộ gần đây có thể kể đến là: xạ trị kỹ thuật điều biến liều (Intensity Modulated Radiotherapy-IMRT), những công cụ ước tính và lập kế hoạch điều trị mới, xạ phẫu định vị (Stereotactic Radiosurgery-SRS), xạ trị định vị (Stereotactic  Radiotherapy-SRT),  điều  trị  bằng các  hạt  nặng:  proton,  ion  carbon,  neutron nhanh, neutron chậm, neutron bắt nguyên tố boron (BNCT), và một vài dạng xạ trị áp sát như xạ trị liều cao (HDR), xạ trị tạo xung (PB), xạ trị áp sát bằng nguồn Cf – 252 …

1. Xạ trị kỹ thuật điều biến liều (IMRT)

Kỹ thuật điều biến liều cho phép điều chỉnh được cường độ của từng tia phát ra. Bằng thiết bị điều biến tinh tế, từng tia phát ra được thay đổi theo không gian và thời gian, không đồng nhất, cứng nhắc như các máy tia hiện nay. Kết hợp với việc thay đổi góc tia, người ta có thể  đưa liều mong muốn tới tới khối u mà giảm thiểu liều tới mô xung quanh. Kỹ thuật thực hiện nhờ có các chương trình máy tính mạnh cùng với hệ thống máy thông minh có thể thay đổi cường độ tia. Hệ thống máy có thể chia chùm tia thành hàng trăm tia nhỏ, mỗi tia được điều khiển riêng. Mặt khác, người ta thiết kế ống chuẩn trực (collimator) nhiều lá. Các lá làm bằng wolfram do máy tính điều khiển để có thể điều chỉnh hình dạng và cường độ của tia. Kỹ thuật xạ trị mới này có thể cải thiện chất lượng điều trị cho khá nhiều bệnh ung thư. Ví dụ: Ung thư tiền liệt tuyến có thể tăng liều mà không gây tổn thương trầm trọng tới trực tràng và bàng quang. Vùng đầu cổ có các cơ quan nhạy cảm tia trong đó có tuyến mang tai hay bị ảnh hưởng bới kỹ thuật tia hiện nay do vậy bệnh nhân có thể bị khô miệng hầu như vĩnh viễn sau tia. Kỹ thuật tia điều biến liều cho phép giữ chức năng của tuyến nước bọt này.

 

Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích

Leave a Comment