Một số yếu tố liên quan đến tử vong của trẻ đẻ non
Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến tử vong của 667 trẻ đẻ non nhập viện tại khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/3/2008 đến 31/07/2008 cho thấy trẻ đẻ non có tuổi thai 25 – 28 tuần tử vong cao nhất (75,6 %). Nhóm trẻ có cân nặng < 1500g có nguy cơ tử vong cao gấp 4,8 lần. Nhóm trẻ > 2500g (p < 0,001). Nhóm trẻ có dị tật bẩm sinh có nguy cơ tử vong cao gấp 5 lần nhóm trẻ không có dị tật bẩm sinh. Nhóm trẻ có BE <- 5 có nguy cơ tử vong cao gấp gần 3 lần so với nhóm trẻ có BE > – 5 (p < 0,001). Nhóm trẻ cần Fi02 nhỏ nhất > 0,37 có nguy cơ tử vong cao gấp 16 lần so với nhóm cần Fi02 <
0, 37 (p < 0,001). nhóm trẻ cần Fi02 lớn nhất trong 12h đầu nhập viện > 0,44 có nguy cơ tử vong cao gấp 8,9 lần so với nhóm có nhu cầu Fi02 < 0,44 (p < 0,001). Nhóm trẻ có PaC02 > 60 mmHg có nguy cơ tử vong cao gấp 3,4 lần nhóm có PaC02 < 60 mmHg (p < 0,001). Nhóm trẻ có thân nhiệt < 35,50C có nguy cơ tử vong cao gấp 5 lần nhóm trẻ có thân nhiệt > 35,50c. Nhóm trẻ có đường huyết < 2,2 mmol/l có nguy cơ tửvong cao gấp 1,87 lần (p < 0,05) và nhóm trẻ có đường huyết > 7,0mmol/l có nguy cơ tử vong cao gấp 3,65 lần (p < 0,001) so với nhóm trẻ có đường huyết 2,3 – 6,9mmol/l. Nhóm trẻ có pH < 7,0 có nguy cơ tử vong cao gấp 3 lần nhóm có pH > 7,0 (p < 0,001). Tóm lại, các yếu tố liên quan tới tỷ lệ tử vong là: Tuổi thai < 31 tuần; Cân nặng < 1500g; Có dị tật bẩm sinh; BE < -5 , PaCO2 > 60 mmHg, pH < 7,0; Cằn Fi02 nhỏ nhất thích hợp > 0,37; cằn Fi02 lớn nhất thích hợp > 0,44; nhiệt độ < 35,50C; hạ đường máu hoặc tăng đường máu.
Hiện nay mỗi năm trên toàn thế giới có 130 triệu trẻ em được sinh ra và khoảng 4 triệu trẻ sơ sinh tử vong chiếm 38% tử vong ở trẻ em. Như vậy mỗi giờ có khoảng 450 trẻ sơ sinh tử vong, chủ yếu tập trung ở các nước Châu Á và Châu Phi (chiếm 3/4). Hầu hết (99%) tử vong sơ sinh xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, chỉ 1% xảy ra ở các nước có thu nhập cao. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng tử vong trong 24 giờ đầu sau sinh chiếm 2/3 tổng số tử vong trong giai đoạn sơ sinh sớm và bằng 25 – 45 % tử vong sơ sinh [8]. Tại Việt Nam theo thống kê của Bộ Y Tế (2004) tỷ suất chết sơ sinh trong cả nước là 18,1 °/oo [3]. Nghiên cứu tử vong của trẻ đẻ non vì thế trở thành vấn đề rất quan trọng, việc tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới tử vong sơ sinh lại càng quan trọng hơn để có cơ sở khoa học đề xuất một số biện pháp làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ đẻ non. Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu: Nghiên cứu Một số yếu tố liên quan đến tử vong của trẻ đẻ non tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi trung ương từ 1/3/2008 đến 31/07/2008.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
+ Trẻ đẻ non: có tuổi thai < 37 tuần và có khả năng sống được (tuổi thai > 22 tuần hoặc cân nặng > 500g).
+ Điều trị tại khoa Sơ sinh, có ngày tuổi < 28 ngày.
Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Trẻ đủ tháng (có tuổi thai > 37 tuần).
+ Những trẻ được chuyển đi các bệnh viện khác trong thời gian nghiên cứu.
2. phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu bệnh chứng với cỡ mẫu được tính theo công thức:
Thay số ta có số bệnh nhân nghiên cứu nc = 600.
Cách thức tiến hành thu thập số liệu
+ Các bệnh nhân khi vào khoa Sơ sinh được chọn vào mẫu nghiên cứu sẽ được khám lâm sàng tỷ mỷ, tiến hành làm xét nghiệm, điều trị, theo dõi Fi02 trong 12 giờ đầu nhập viện và 48 giờ sau vào viện, các thông số nghiên cứu được ghi nhận theo bệnh án mẫu.
+ Các xét nghiệm được thực hiện tại khoa Sinh hoá và khoa Huyết học, bệnh viện Nhi Trung ương.
Các biến số theo thang điểm CRIB
– Tuổi thai: tính theo bảng điểm đánh giá tuổi thai Finstrom tại khoa Sơ sinh bệnh viện nhi Trung ương.
– Cân nặng: được đo bằng một cân điện tử ở khoa sơ sinh (g).
– Dị tật bẩm sinh [2]:
+ Dị tật bẩm sinh gây chết ngay sau đẻ: vô sọ; phù bào thai; không thận.
+ Dị tật bẩm sinh nặng (đe dọa tính mạng cấp): tim bẩm sinh tím sớm (chuyển gốc động mạch; thân chung động mạch; thất phải 2 đường ra, thất trái 2 đường vào, tứ chứng Fallot hẹp động mạch phổi nặng, bất thường động mạch vành; hẹp eo, quai động mạch chủ); thiểu sản thanh khí phế quản, thoát vị hoành bẩm sinh.
+ Dị tật bẩm sinh nhẹ: dị tật vùng mặt, tay, chân; tim bẩm sinh tím muộn (còn ống động mạch, thông liên thất, thông liên nhĩ); đảo ngược phủ tạng.
– Khí máu:
+ Lấy máu động mạch: động mạch quay.
+ Mau máu được đưa ngay xuống phòng xét nghiệm.
+ Kết quả được phân tích do loại máy sinh hoá hiện đang có tại bệnh viện Nhi: Phox plus L.
+ Xét nghiệm khí máu được lấy tại thời điểm vào viện và sau 48 giờ nhập viện.
– FiO2:
+ Nồng độ oxy trong khí thở vào
+ Nồng độ oxy thích hợp để Sp02 đạt 95 %.
+ Kết quả từng giờ được ghi vào bảng theo dõi đầu giường.
Kết quả điều trị: sống hay tử vong.
3. Xử lý số liệu
Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1,
Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích