Một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue trên địa bàn Hà Nội trong năm 2009

Một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue trên địa bàn Hà Nội trong năm 2009

Bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue (SD/ SXHD) là một vấn đề luôn mang tích chất thời sự của y học. Bệnh đã và đang được sự quan tâm trên toàn thế giới bởi tính chất gây bệnh thành dịch lớn và có tỷ lệ tử vong khá cao. Kể từ khi được ghi nhận lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1778 – 1780 trên cả ba lục địa Á, Phi, Mỹ, SD/SXHD đã thể hiện tính phổ biến của bệnh  và  côn  trùng  trung  gian  truyền  bệnh. Trước năm 1970 trên thế giới chỉ có 9 nước có dịch lưu hành thì tính đến hiện nay bệnh đã trở thành dịch của trên 100 quốc gia. Hàng năm theo theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) có khoảng từ 50 tới 100 triệu người mắc bệnh với tỷ lệ tử vong chung vào khoảng 2,5 % [10].
Tại  Việt Nam, bệnh  sốt Dengue/  sốt  xuất huyết Dengue đã được biết tới và nghiên cứu từ lâu. Vụ dịch được ghi nhận lần đầu tiên tại Việt Nam là ở miền Bắc vào năm 1958, ở miền Nam vào năm 1960 và sau đó bệnh được phát hiện khắp cả nước. Những thập niên cuối thế kỷ trước, bệnh xuất hiện trong nhân dân thường riêng lẻ hoặc thành dịch nhỏ và rải rác vào các tháng trong năm do vậy chưa được chú trọng nhiều. Chỉ khi bệnh bùng phát thành dịch lớn vào năm 1998 với 234920 người mắc và 377 người tử vong [6] gây ra những thiệt hại lớn về người, kinh tế, tinh thần của nhân dân thì bệnh mới được chú trọng nghiên cứu nhiều hơn và được đưa vào chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống SXH. Tuy vậy cho tới hiện nay, bệnh vẫn luôn tồn tại và phát triển ngày một phức tạp.
Theo thống kê của ngành y tế Hà Nội, trong năm 2006 Hà Nội có 2.486 trường hợp mắc bệnh trong khi cả nước có 77.808 trường hợp chiếm 3,2%, năm 2007 có 1806 trường hợp rải rác ở 21/ 29 quận của thành phố, và đến năm 2009 bệnh bùng phát thành dịch lớn phát triển phức tạp. Tính tới tháng 11/2009, tại Hà Nội đã có 8000 người mắc ở tất cả các quận huyện của thành phố với tỷ lệ 120/ 100.000 dân, cao gấp 15 lần năm ngoái và cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây [6].
Trước tình hình đó, đã có rất nhiều nghiên cứu về bệnh SD/SXHD được thực hiện trên cả nước nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng nhằm  ngăn  chặn  dịch  SD/SXHD  phát  triển thêm trong những tháng tiếp theo và đồng thời cung cấp tài liệu cho công tác phòng chống dịch trong những năm tiếp theo, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue trên địa bàn Hà Nội năm 2009.
I.    ĐỐI  TƯỢNG  VÀ  PHƯƠNG   PHÁP NGHIÊN CỨU
1.    Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu  bệnh chứng ghép cặp theo tuổi, giới
2.    Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu  được thực hiện tại Hà Nội.
3.    Mẫu nghiên cứu
73 bệnh nhân trên 15 tuổi sống tại Hà Nội, được chẩn đoán sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue qua lâm sàng và cận lâm sàng tại viện Lâm Sàng Các Bệnh Nhiệt Đới, bệnh viện Đại Học Y Hà Nội và khoa truyền nhiễm bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 3/2010 được lựa chọn vào nhóm bệnh của nghiên cứu.
Với mỗi trường hợp tại nhóm bệnh, một trường hợp tại nhóm chứng được lựa chọn cũng là những bệnh nhân sống tại Hà Nội vào nằm tại các bệnh viện trên trong cùng thời gian, nhưng không được chẩn đoán sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue và các bệnh truyền nhiễm do muỗi. Ngoài ra người ở nhóm chứng phải tương ứng về tuổi, giới với người ở nhóm bệnh.
4.    Kỹ thuật thu thập thông tin
Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc được thực hiện với các đối tượng nghiên cứu của cả hai nhóm  bệnh  và  chứng. Bộ  câu  hỏi  được  xây dựng dựa trên các biên số như trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi sinh sống, các đặc điểm về môi trường xung quanh như loại nhà ở, số người trong nhà, nguồn nước sinh hoạt, các dụng cụ chứa nước, và xử lý nước.
Trước khi thực hiện thu thập số liệu chính thức, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi và sửa đổi cho phù hợp.
5.    Phân tích số liệu
Phân tích sự khác biệt giữa nhóm bệnh và nhóm chứng được thực hiện để tìm sự khác biệt đối với các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới bệnh, sử dụng phần mềm STATA 10.0. Bên cạnh đó những người ở nhóm bệnh cũng được so sánh với người ở nhóm chứng bằng phân tích mô hình hổi quy logistic các yếu tố ảnh hưởng.

Trong những năm gần đây, mặc dù công tác phòng chống dịch luôn được đề cao ở Thủ đô Hà Nội, nhưng bệnh sốt Dengue/ Sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD) vẫn luôn tồn tại và phát triển ngày một phức tạp. Nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới bệnh SD/SXHD trên địa bàn thành phố Hà Nội trong năm 2009 được tiến hành với mục tiêu: mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh SD/SXHD. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu bệnh chứng phỏng vấn trực tiếp 73 bệnh nhân được chẩn đoán SD/SXHD và 73 bệnh nhân không được chẩn đoán SD/SXHD theo bộ câu hỏi bán cấu trúc có sẵn. Kết quả: Bệnh tập trung chủ yếu ở các quận nội thành Hà Nội (74%), thuộc nhóm tuổi 15 – 30 (75,3%), và nhiều ở nhóm còn đang đi học (49,3%). Bệnh cũng xuất hiện nhiều hơn trong những nhà ở gần những nơi thích hợp với muỗi phát triển như ao hồ sông, nơi tập kết rác, cống không nắp… và sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cũng cho thấy những người ở nhà có bể nước không có nắp đậy thì có nguy cơ mắc SXH cao gấp 6,7 lần (95%CI: 0,7 – 67,1) so với những người ở nhà mà bể nước có nắp đậy và những người ở nhà mà xung quanh có cống không có nắp thì có nguy cơ mắc sốt xuất huyết cao gấp 4,6 lần (95% CI: 1,9 – 10,9) một cách có ý nghĩa so với những nhà mà có cống có nắp. Kết luận: Dịch xuất hiện chính tại nội thành Hà Nội, ở nhà thuê, đặc biệt đối tượng là sinh viên ở thuê dễ nhạy cảm mắc bệnh. Những hộ gia đình ở gần khu vực có nước ứ đọng như ao, hồ, sông, và những nơi thuận lợi cho muỗi phát triển như gần nơi tập kết rác, gần cống không có nắp có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn.

Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích

Leave a Comment