Nghiên cứu ảnh hưởng của simvastatin lên hoạt tính đông máu huyết tương ở những bênh nhân có rối loạn chuyển hoá lipid
Statin và các dẫn chất của nó (simvastatin, autorvastatin,…) được sử dụng trong điều trị rối loạn chuyển hoá lipid, phòng chống huyết khối. Cơ chế chống huyết khối của nhóm thuốc này vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu. Chúng có thể có tác dụng điều biến dòng thác đông máu dẫn đến làm giảm sự hình thành huyết khối. Mục tiêu: Nghiên cứu ảnh hưởng của simvastatin lên hê đông máu ở những bênh nhân có rối loạn chuyển hoá lipid. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu tiến cứu trên 22 bênh nhân rối loạn lipid máu typ Ila được điều trị simvastatin trong thời gian 1 tháng. Các chỉ số lipid máu (cholesterol, triglycerid, HDL, LDL) và một số chỉ số đông máu (PT, APT, fibrinogen, yếu tố II, V, VII, VIII, IX, XI) được so sánh với nhóm chứng (n=59) và so sánh trước và sau khi điều trị. Kết quả: Hầu hết các chỉ số đông máu (trừ hoạt tính của yếu tố VIII và X) của nhóm BN trước điều trị đều khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng theo chiều hướng tăng đông. Sau điều trị, tỷ số PT (PT rate), thời gian APTT, tỷ số APTT (APTT rate), hoạt tính yếu tố VII và IX đều khác biệt so với trước điều trị theo chiều hướng giảm đông (p < 0,05). Đặc biệt, nồng độ fibrinogen đã giảm hơn rõ rệt so với trước điều trị với p < 0,01. Sau đIều trị, trên 50% số BN có các chỉ số lipid huyết tương và các chỉ số đông máu trở về giới hạn bình thường. Kết luận: liệu pháp điều trị simvastatin cho những bệnh nhân tăng cholesterol máu ngoài tác dụng giảm nồng độ lipid trong huyết tương còn có tác dụng làm giảm hoạt tính đông máu của huyết tương, vì vậy rất có hiệu quả trong phòng chống huyết khối.
I. ĐẶT VẤN ĐỂ
Hội chứng tăng lipid máu từ lâu đã được coi là một yếu tố nguy cơ quan trọng trong bệnh vữa xơ động mạch (VXĐM) và các bệnh mạch vành. VXĐM là một trong những bệnh tim mạch dễ gây tử vong nhất do các biến chứng của nó như nhồi máu cơ tim, tắc mạch não,. Các biến chứng nặng của VXĐM thường xảy ra đột ngột, đặc biệt ở những người trên 40 tuổi. Thương tổn VXĐM xuất hiện sớm, tiến triển rất chậm, thường không có triệu chứng lâm sàng và chỉ biểu hiện khi động mạch bị hẹp nhiều hoặc bị tắc nghẽn. Mảng VXĐM thường làm cho khẩu kính lòng mạch bị hẹp lại, làm thay đổi tốc độ dòng máu, gây rối loạn huyết động dẫn đến kích hoạt hệ đông cầm máu hình thành cục máu đông trong lòng mạch. Các dẫn chất statin như simvastatin, autorvastatin,. đã được biết như là một thuốc làm giảm hàm lượng lipid máu, phòng ngừa bệnh VXĐM đặc biệt là bệnh mạch vành. Ngoài tác dụng trên, nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh được các tác dụng “nhiều hướng” của statin trong đó có tác dụng điều biến dòng thác đông máu dẫn đến làm giảm sự hình thành huyết khối [1]. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu:
Nghiên cứu ảnh hưởng của simvastatin lên hoạt tính đông máu huyết tương ở những bênh nhân có rối loạn chuyển hoá lipid.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Đối tượng nghiên cứu: được lựa chọn từ những bệnh nhân (BN) đến khám sức khoẻ định kỳ tại bệnh viện TWQĐ 108 từ tháng 5/2004 đến 8/2006 và được chia làm hai nhóm:
– Nhóm BN tăng lipid máu: gồm 22 BN rối loạn lipid máu typ Ila (tăng cholesterol máu đơn thuần). Chưa có những triệu chứng lâm sàng và những biến đổi về cận lâm sàng biểu hiên tổn thương của các cơ quan nội tạng.
– Nhóm chứng: gồm 59 người khoẻ mạnh, không có bệnh cấp và mãn tính tiến triển, có các xét nghiệm về lipid máu, đường máu, chức năng gan, thận trong giới hạn bình thường.
2. Phương pháp nghiên cứu:
• Sử dụng phương pháp nghiên cứu tiến cứu.
22 BN tăng lipid máu typ Ila được sử dụng chế phẩm simvastatin (biệt dược là Zocor) với liều 20mg/24h (1 lần vào buổi tối trước khi ngủ) trong 1 tháng. Các BN này được tiến hành xét nghiệm các chỉ số lipid máu, các chỉ số đông máu trước và sau khi điều trị. Các kết quả thu được trước điều trị được so sánh với nhóm chứng và so sánh với kết quả sau điều trị.
• Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu: được tiến hành tại labo sinh hoá và huyết học của bệnh viên TWQĐ 108
– Các chỉ số lipid huyết tương được đo trên máy sinh hoá tự động Hitachi 9000
– Các chỉ số đông máu được xác định trên máy đông máu tự động ACL 9000 (Italia):
+ Tỷ lệ prothrombin (PT%), thời gian thromboplastin được hoạt hoá từng phần (APTT).
+ Định lượng fibrinogen.
+ Định lượng các yếu tố đông máu: gồm các yếu tố II, V, VII, X, VIII, IX và XI.
– Xử lý kết quả bằng chương trình Stata 8.0
Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích