Nghiên cứu bào chế màng mỏng chứa acyclovir và clorhexidin kết dính niêm mạc miệng
Đặt vấn đề: Nhằm mục đích tăng hiệu quả điều trị các bệnh viêm nhiễm ở khoang miệng do virus herpes gây ra, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu bào chế màng mỏng chứa acyclovir và clorhexidin kết dính niêm mạc miệng”
Mục tiêu: (1)Bào chế được màng mỏng chứa acyclovir và clorhexidin kết dính niêm mạc miệng bằng phương pháp bốc hơi dung môi. (2)Khảo sát ảnh hưởng của tá dược và tỷ lệ phối hợp hai dược chất đến khả năng kết dính của màng mỏng và khả năng giải phóng
dược chất từ màng mỏng.
Đối tượng nghiên cứu: Màng mỏng chứa acyclovir và clorhexidin kết dính niêm mạc miệng.
Phương pháp nghiên cứu: Màng mỏng chứa acyclovir và clorhexidin được bào chế bằng phương pháp bốc hơi dung môi. Sau đó, màng mỏng được tiến hành phân tích định lượng dược chất trong màng mỏng chứa 1 thành phần bằng phương pháp đo quang và màng mỏng chứa 2 thành phần bằng phương pháp HPLC. Đánh giá khả năng kết dính của màng mỏng. Đánh giá khả năng giải phóng dược chất qua màng Hanson research.
Kết quả:Từ kết quả phân tích, chúng tôi đã thu được kết quả như sau: (1)Đã xây dựng được phương pháp định lượng đồng thời acyclovir và clohexidin bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao, tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo; (2)Đã khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng của các tá dược HPMC E15, PVA, glycerin tới tính chất màng mỏng, khả năng kết dính và khả năng giải phóng dược chất từ màng mỏng; (3)Đã lựa chọn được công thức bào chế màng mỏng chứa acyclovir và clorhexidin kết dính niêm mạc miệng có khả năng kết dính tốt và có khả năng giải phóng dược chất cao, đều đặn và kéo dài trong 6 giờ.
Kết luận: Trong đề tài nghiên cứu này, màng mỏng chứa acyclovir và clorhexidin kết dính niêm mạc miệng đã được nghiên cứu về xây dựng công thức bào chế và đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng.
2.Summary:
3. Báo cáo toàn văn
3.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, các dạng thuốc kết dính niêm mạc miệng dùng để điều trị các bệnh tại khoang miệng do nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, nhiễm virus ngày càng phát triển đa dạng và phong phú như viên nén kết dính, viên đổ khuôn, miếng dán, màng mỏng, gel, kem,… Trong các dạng thuốc kết dính niêm mạc miệng, thì màng mỏng với ưu điểm nổi bật là đặc tính linh động và mềm mại (so với viên nén kết dính và miếng dán), tránh được sự rửa trôi và bong ra do nước bọt ( so với dạng gel và kem) nên có thể lưu trữ lâu ở vị trí sử dụng. Do vậy, dạng bào chế này có thể làm tăng hiệu quả điều trị bệnh và thuận tiện cho bệnh nhân không phải sử dụng thuốc nhiều lần trong ngày. Vì những lý do trên và khảo sát thấy rằng ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu về dạng bào chế màng mỏng chứa hỗn hợp acyclovir và clorhexidin nên chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu bào chế màng mỏng chứa acyclovir và clorhexidin kết dính niêm mạc miệng” với các mục tiêu sau:
– Bào chế được màng mỏng chứa acyclovir và clorhexidin kết dính niêm mạc
miệng bằng phương pháp bốc hơi dung môi.
– Khảo sát ảnh hưởng của tá dược và tỷ lệ phối hợp hai dược chất đến khả năng kết dính của màng mỏng và khả năng giải phóng dược chất từ màng mỏng.
3.2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Màng mỏng chứa acyclovir và chlorhexidin dính niêm mạc miệng.
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.2.1. Phương pháp bào chế
Màng mỏng chứa acyclovir và clorhexidin được bào chế bằng phương pháp bốc hơi dung môi: Ngâm polyme trong nước cho trương nở hoàn toàn. Nghiền mịn acyclovir, phối hợp với glycerin tạo thành bột nhão, thêm clorhexidin vào hỗn hợp trên. Cho hỗn hợp vào dung dịch polyme. Khuấy trộn cho phân tán đồng nhất. Tráng film bằng cách chuyển vào đĩa petri. Bốc hơi dung môi trong tủ sấy ở nhiệt độ 40- 450C trong 24h để tạo film.Cắt film với tỷ lệ 3cm x 3cm x 0,07cm, đóng gói, để trong bình hút ẩm.
3.2.2.2. Phương pháp đánh giá
* Phương pháp định lượng dược chất trong màng mỏng
Phương pháp đo quang (định lượng acyclovir hoặc clorhexidin trong màng mỏng chứa 1 thành phần). Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (định lượng acyclovir và clorhexidin trong màng mỏng chứa 2 thành phần)
* Phương pháp đánh giá khả năng giải phóng dược chất qua màng Hanson research
Điều kiện cụ thể: Màng giải phóng là màng cellulose acetat, kích thước lỗ xốp 0,45
Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích