Nghiên cứu bất thường nhiễm sắc thể của hội chứng Down khi bố mẹ mang chuyển đoạn cân bằng của nhiễm sắc thể 21
Hội chứng Down thường gặp trong các hội chứng có biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể (NST). Hội chứng Down chiếm tỷ lệ 1/700 – 1/800 ở trẻ sơ sinh còn sống và tỷ lệ này tương tự giống nhau ở các nước và các chủng tộc khác nhau trên thế giới. Năm 1959 Lejeune J. là người đầu tiên phát hiện ở những đứa trẻ mắc hội chứng Down có 47
NST là do thừa 1 NST số 21 trong bộ NST. Vì vậy hội chứng Down còn được gọi một cái tên khác là trisomi 21. Trong những năm gần đây các phương pháp nuôi cấy mô và kỹ thuật nhuộm tiêu bản NST, đặc biệt là kỹ thuật nhuộm băng ngày càng phát triển và cải tiến không ngừng đã giúp cho các nhà di truyền học phát hiện được các dạng rối loạn về số lượng và cấu trúc của NST.
Nguyên nhân sinh ra những đứa trẻ mắc hội chứng Down đã được các tác giả trong nước và trên thế giới xác nhận là do tuổi của bố mẹ cao, đặc biệt là tuổi của mẹ. Mặt khác ở những cặp bố mẹ, có thể là những người mang NST chuyền đoạn cân bằng giữa NST 21 và các NST khác trong bộ NST và hay gặp nhất là giữa các NST trong nhóm D (13, 14 và 15) và nhóm G (21 và 22). Nguy cơ sinh ra những đứa con mắc hội chứng Down còn tuỳ thuộc vào người bố hoặc người mẹ mang NST chuyển đoạn cân bằng và tuỳ thuộc vào kiểu chuyển đoạn. Vì vậy đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục tiêu:
1. NC bất thường NST của hội chứng Down.
2. Phân tích nguy cơ sinh con Down ở những cặp bố mẹ mang NST chuyển đoạn t(Dq; 21q) hoặc t(21q; Gq).
I. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Tổng số 157 trẻ em từ 1 ngày tuổi đến 7 tuổi đã được chẩn đoán lâm sàng là mắc hội chứng Down từ bệnh viện Nhi Trung ương, khoa Nhi ở các bệnh viện Bạch Mai, Saint – Paul, bệnh viện Phụ Sản Trung ương và 157 cặp bố mẹ của trẻ mắc hội chứng Down này được làm hồ sơ bệnh án di truyền và xét nghiệm NST tại bộ môn Y Sinh học – Di truyền, trường Đại học Y Hà Nội.
2. phương pháp nghiên cứu
Lập hồ sơ bệnh án di truyền các cặp bố mẹ đã sinh con Down, bao gồm: tuổi của bố mẹ, nghề nghiệp, tiền sử thai sản, mắc các bệnh mãn tính, có tiếp xúc với các chất độc, thuốc bảo vệ thực vật, có nghiện rượu và thuốc lá không?
Nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi để phân tích NST theo phương pháp của Hungerford. D.A (1965) [1], phân tích và lập Karyotyp theo tiêu chuẩn của ISCN – 2005 [5].
Lấy 2ml máu tĩnh mạch cho vào ống ly tâm vô trùng đã được tráng bằng dung dịch heparin rồi đậy bằng nút cao su.
Các bước tiến hành nuôi cấy được thực hiện trong điều kiện vô trùng: lấy 8 giọt máu toàn phần cho vào lọ nuôi cấy thể tích 60ml có chứa 8ml môi trường nuôi cấy (F.10 hoặc F.12), 2ml huyết thanh bê và 0,1ml dung dịch P.H.A (phytohemaglutinin) đậy nút cao su rồi để trong tủ ấm 370C, thời gian 72 giờ. Đến giờ thứ 70 bổ sung vào lọ nuôi cấy 1ml dung dịch colcemid nồng độ 1μg/ml.
Thu hoạch tế bào: dịch treo tế bào được chuyển từ lọ nuôi cấy sang ống ly tâm và ly tâm từ 800 – 1000 vòng/1 phút, thời gian 10 phút. Dùng pipet Pasteur loại bỏ dịch phía trên và giữ lại phần cặn tế bào rồi cho 10ml dung dịch KCl 0,075M và để trong tủ ấm 370C thời gian 45 phút. Sau đó ly tâm, loại bỏ dịch phía trên và giữ lại phần cặn tế bào rồi cho dung dịch carnoy (3 methanol: 1 axit acetic), bước này được nhắc lại 3 lần. Lần thứ 3 sau khi giữ lại phần cặn tế bào rồi dùng pipet Pasteur hút lấy phần cặn tế bào và dàn đều lên phiến kính sạch đã để lạnh. Sau khi tiêu bản khô tự nhiên rồi nhuộm tiêu bản bằng băng G theo phương pháp của Seabright.M (1971) [4].
Mỗi bệnh nhân được đánh giá 50 cụm NST ở kỳ giữa dưới kinh hiển vi quang học với độ phóng đại 1000 lần. Phân tích và lập karyotyp trên phần mềm máy vi tinh theo tiêu chuẩn ISCN – 2005 [5].
Hội chứng Down thường gặp trong các hội chứng có biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể (NST) ở trẻ sơ sinh còn sống và nguyên nhân đã được biết có liên quan đến tuổi của người mẹ. Tuy nhiên ở những trẻ mắc hội chứng Down do chuyển đoạn có thể được sinh ra ở những cặp bố mẹ mang NST chuyển đoạn cân bằng. Mục tiêu: (1) Nghiên cứu (NC) bất thường nhiễm sắc thể hội chứng down. (2) Phân tích nguy cơ sinh con Down ở những cặp bố mẹ mang nhiễm sắc thể chuyển đoạn t(Dq; 21q) hoặc t(21q; Gq). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 157 trẻ Down và 157 cặp bố mẹ được xét nghiệm NST bằng phương pháp nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi. Kết quả và kết luận: 92,4% là trisomi 21 thuần, 5,7% là thể chuyển đoạn và 1,9% là thể khảm. 154 cặp bố mẹ (98,1%) có karyotyp bình thường và 3 cặp bố mẹ (1,9%) có karyotyp bất thường mang NST chuyển đoạn cân bằng. 1 cặp bố mẹ mang NST chuyển đoạn t(14q; 21q) có thể có khả năng sinh con Down, còn nguy cơ sinh con Down ở 2 cặp bố mẹ mang NST chuyển đoạn t(21q; 21q) là 100%. Các cặp bố mẹ này cần được tư vấn di truyền.
Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích