Nghiên cứu biến chứng phù hoàng điểm dạng nang sau phẫu thuật tán nhuyễn TTT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của phù hoàng điểm dạng nang (CME) sau phẫu thuật tán nhuyễn thể thủy tinh (TTT), một số yếu tố liên quan đến sự xuất hiên CME. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu 625 bênh nhân đục TTT không có bênh lý khác tại mắt và bênh lý toàn thân được mổ bằng phương pháp tán nhuyễn TTT. Qua theo dõi sau phẫu thuật chọn ra các bênh nhân bị CME tại Bênh viên Mắt HN từ tháng 2/2007 đến tháng 2/2008. Nghiên cứu mô tả tiến cứu không có đối chứng. Kết quả: 625 bênh nhân trong nhóm nghiên cứu tuổi từ 40 ^ < 80, thị lực < 3/10 có 127 bênh nhân bị CME chiếm tỷ lê 20,3%. Trong 127 bênh nhân bị CME có 79 bênh nhân (62,2%) không có biểu hiên trên lâm sàng chỉ phát hiên trên chụp mạch huỳnh quang. 48 bênh nhân (37,8%) có biểu hiên trên lâm sàng chủ yếu là nhìn mờ. Mức độ CME thường nhẹ, mức độ 1 chiếm tỷ lê 62,2%. Mức độ nặng chiếm tỷ lê 21,2% thường xảy ra trên mắt có thoát dịch kính trong phẫu thuật hay viêm màng bổ đào (VMBĐ) sau phẫu thuật. Tỷ lê CME ở nhóm thoát dịch kính trong phẫu thuật và nhóm VMBĐ cao hơn ở nhóm không có biến chứng trong và sau phẫu thuật sự khác biêt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết luận: CME sau phẫu thuật tán nhuyễn TTT chiếm tỷ lê cao (20,3%). Mức độ CME thường nhẹ ít gây rối loạn chức năng thị giác trầm trọng. Những mắt CME ở mức độ nặng thường xuất hiên trên mắt có thoát dịch kính trong quá trình phẫu thuật và VMBĐ sau phẫu thuật. Thoát dịch kính trong phẫu thuật và VMBĐ sau phẫu thuật là một trong những yếu tố làm tăng sự xuất hiên CME và mức độ CME.
Từ khóa: Phù hoàng điểm dạng nang, tán nhuyễn TTT, đặt TTT nhân tạo.
I. ĐẶT VẤN ĐỂ
Phù hoàng điểm dạng nang (CME) sau phẫu thuật lấy TTT được Irvine mô tả đầu tiên năm 1954 trên bênh nhân sau mổ lấy TTT trong bao. Năm 1960 Gass mô tả CME xảy ra trên mắt không có TTT với những khoang dạng nang trên chụp mạch huỳnh quang ở vùng hoàng điểm và nhuộm màu đầu dây thần kinh thị giác. Do đó CME sau phẫu thuật lấy TTT được gọi là hội chứng Irvine – Gass. CME thường xuất hiên sau phẫu thuật từ 4 đến 8 tuần, khả năng tự khỏi sau 4 – 6 tháng chiếm 2/3 số bênh nhân. Khoảng 2% trở thành CME mãn tính gây giảm thị lực vĩnh viễn.
Gần đây, với sự ra đời của phẫu thuật tán nhuyễn TTT bằng siêu âm là một tiến bộ vượt bậc của kỹ thuật mổ đục TTT nhưng CME vẫn chiếm tỷ lê 19% theo Ursell P.G và cộng sự [8], 10% theo Jall Mentes, Tansu Erokgan [7] và là một biến chứng quan trọng gây giảm thị lực sau phẫu thuật tán nhuyễn TTT.
Trong thời gian áp dụng kỹ thuật tán nhuyễn TTT ở Bênh viên Mắt Hà Nội từ năm 1998 đến nay, chúng tôi mổ được trên 15.000 mắt đục TTT và đã gặp nhiều bênh nhân bị CME. Viêc nghiên cứu
1
sâu về CME sau phẫu thuật tán nhuyễn TTT tại Việt Nam còn chưa được chú ý một cách thích đáng. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu biến chứng phù hoàng điểm dạng nang sau phẫu thuật tán nhuyễn TTT” với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của CME sau phẫu thuật tán nhuyễn TTT.
2. Nhận xét một số yếu tố liên quan đến sự xuất hiện CME sau phẫu thuật tán nhuyễn TTT.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
Đối tượng nghiên cứu: Là những bệnh nhân đục TTT được mổ bằng phương pháp tán nhuyễn TTT, qua theo dõi sau mổ chọn ra các bệnh nhân bị CME để nghiên cứu riêng tại Bệnh viện Mắt Hà Nội từ tháng 2/2007 đến tháng 2/2008.
Tiêu chuẩn chọn bênh nhân:
– Các bệnh nhân đục TTT không phân biệt giới, tuổi từ 40 – < 80 tuổi, có thị lực < 3/10 được mổ bằng phương pháp tán nhuyễn TTT.
– Các bệnh nhân CME được xác định bằng tiêu chuẩn vàng trên chụp mạch huỳnh quang ở tuần thứ 6 sau phẫu thuật tán nhuyễn TTT.
Tiêu chuẩn loại trừ:
– Những mắt đục TTT không do tuổi già như đục TTT do chấn thương, đục TTT bẩm sinh …
– Mắt đục TTT có bệnh lý tại mắt (đục TTT phối hợp glôcôm, tắc tĩnh mạch trung tâm .)
– Đục TTT trên bệnh nhân có bệnh lý toàn thân như cao huyết áp, có tiền sử dị ứng không chụp được mạch huỳnh quang .
Phương pháp nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên lâm sàng không có đối chứng.
Phương tiên nghiên cứu: Chúng tôi sử dụng các phương tiện hiện có tại Bệnh viện Mắt Hà Nội. Dụng cụ để khám (Bảng đo thị lực, bảng Amsler, máy soi đáy mắt, nhãn áp kế Maklakov, kính voll, máy sinh hiển vi .), thuốc khám và điều trị, dụng cụ để phẫu thuật tán nhuyễn TTT.
Nội dung nghiên cứu:
* Thăm khám bệnh nhân trước mổ:
– Tất cả bệnh nhân khi vào viện được khám toàn diện để chọn ra các bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn đưa vào nhóm nghiên cứu.
– Tất cả những bệnh nhân đó được mổ cùng một phương pháp tán nhuyễn TTT.
* Theo dổi phẫu thuật: Nhằm ghi lại các biến chứng xảy ra trong lúc mổ, năng lượng sử dụng trong quá trình tán nhuyễn TTT, thời gian phẫu thuật.
* Theo dổi sau mổ và chăm sóc bệnh nhân: Nhằm chăm sóc bệnh nhân và phát hiện các trường hợp bị CME và các biến chứng sau phẫu thuật.
– Sau mổ bệnh nhân được khám lại sau 1 ngày, 1 tuần, 4 tuần, 6 tuần và 12 tuần.
– Mỗi lần khám, bệnh nhân được hỏi triệu chứng của hội chứng hoàng điểm, làm các khám nghiệm đánh giá chức năng hoàng điểm, phát hiện tổn thương võng mạc vùng hoàng điểm, tình trạng vết mổ, tình trạng của tiền phòng, dịch kính ở tiền phòng, mống mắt, vết mổ, vết rách của bao trước,
Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích