Nghiên cứu biến đổi gen aml1/eto trên 76 bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy

Nghiên cứu biến đổi gen aml1/eto trên 76 bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy

Bất thường nhiễm sắc thể dạng t(8;21) có tần suất khá cao trong lơ xê mi cấp dòng tủy, chiếm khoảng  15% các  bệnh  nhân  người  lớn.  Kết  quả của chuyển đoạn này là sự kết hợp giữa gen AML1 (acute myelogenous leukemia 1) trên  nhiễm  sắc thể 21 và gen ETO (eight twenty – one) trên nhiễm sắc thể số 8 tạo thành gen lai AML1/ETO. Gen lai này có vai trò ức chế hoạt động của gen AML1 – một  gen ảnh  hưởng  trực  tiếp  đến  quá  trình biệt hóa  và  phát  triển  của  các  tế  bào  máu.  Biến  đổi gen AML1/ETO được coi như là một yếu tố tiên lượng tốt ở bệnh lơ xê mi cấp dòng tủy. Những bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy có gen lai này thường đáp ứng tốt với điều trị hóa chất và có thời gian sống kéo dài, thậm chí đến 10 năm [3, 8].

Trong lơ xê  mi cấp  dòng  tủy,  gen lai AML1/ ETO thường  gặp  ở  thể  M2 (theo phân  loại  của FAB). Trên thực tế, với kỹ thuật RT – PCR có thể phát hiện phức hợp gen này ở những bệnh nhân sau khi đã điều trị lui bệnh hoàn toàn, thậm chí đã được ghép tế bào gốc đồng loại [8].

Trên thế giới từ 2001, Tổ chức Y tế Thế giới đã có  sự  phân  loại  mới  lơ xê  mi cấp  dòng  tủy  dựa trên  biến  đổi  di truyền.  Thể  có  AML1/ETO được xếp vào nhóm có biến đổi di truyền có tiên lượng tốt và có khả năng lui bệnh hoàn toàn sau điều trị hóa chất với cytarabin liều cao [8]. Việc xác định các biến đổi di truyền nói chung và biến đổi gen nói  riêng  bao gồm  cả  gen lai AML1/ETO là  một xét nghiệm thiết yếu trong chẩn đoán, chỉ định điều trị và tiên lượng lơ xê mi cấp dòng tủy. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu:

1. Nghiên  cứu  biến  đổi  gen  AML1/ETO  ở bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy.

2. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số chỉ số huyết học ở bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy có biến đổi gen AML1/ETO.

II. ĐỐI   TƯỢNG   VÀ   PHƯƠNG   PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

76 bệnh  nhân  ở  viện  Huyết  học  truyền  máu TW và  khoa Huyết  học  truyền  máu  bệnh  viện Bạch Mai được chẩn đoán lơ xê mi cấp dòng tủy theo tiêu  chuẩn  của  FAB [1], chưa được  điều  trị hóa chất từ 4/2007 đến tháng 7/2008.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bệnh nhân được chẩn đoán lơ xê mi cấp dòng tủy dựa trên triệu chứng lâm sàng và huyết tủy đồ

hóa  học  tế bào  theo tiêu  chuẩn  của  FAB,  được

thăm khám, hỏi bệnh và lập hồ sơ chi tiết, và sử dụng kỹ thuật PCR để xác định biến đổi gen AML1/ETO.

Tách chiết RNA: tách bạch cầu từ  1ml dịch tủy xương chống đông bằng cách ly tâm với dung dịch phân  giải  hồng  cầu,  chiết  tách  ARN bằng RNeasy Plus Mini Kit.

Kỹ thuật RT – PCR: để tổng hợp DNA bổ sung (cDNA) từ khuôn mẫu RNA

Kỹ thuật nested – PCR: 3 ml sản phẩm RT

PCR trộn  với  10 ml Qiagen Fast Cycling  PCR Master  Mix,  0,5  ml  mồi  forward  ,  0,5ml  mồi reverse, 2 ml CoralLoad Fast Cycling dye 10 x, 4 ml nước cất. Sau đó tiến hành phản ứng nested – PCR theo chu trình  nhiệt  950C (5 phút),  960C (5 giây), 600C (5 giây), 680C (30 giây), 720C (1 phút).

Trình tự cặp mồi cho phản ứng PCR của gen AML1/ETO (kích thước 185bp):

5 – AGCCATGAAGAACCAGG – 3

5 – AGGCTGTAGGAGAATCC – 3

5 – CTACCACAGAGCCATCAA – 3

5 – TGAACTGGTTCTTGGAGC – 3

Mục tiêu: (1) Nghiên cứu biến đổi gen AML1/ETO ở bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy. (2) Nghiên cứu đặc  điểm  lâm  sàng  và  một  số  chỉ số  huyết  học  ở  bệnh  nhân  lơ xê  mi cấp  dòng  tủy  có  biến  đổi  gen AML1/ETO. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 76 bệnh nhân ở Viện Huyết học truyền máu TW và khoa Huyết học truyền máu bệnh viện Bạch Mai được chẩn đoán lơ xê mi cấp dòng tủy theo tiêu chuẩn của FAB, chưa được điều trị hóa chất từ 4/2007 đến tháng 7/2008 được khám lâm sàng, làm xét nghiệm huyết tủy đồ, xét nghiệm PCR xác định gen AML1/ETO. Kết quả và kết luận: số bệnh nhân có AML1/ETO dương tính là 18 chiếm 24%, số bệnh nhân thể M2 có AML1/ETO dương tính là 5 chiếm 28% tổng số các bệnh nhân thể M2. Nhóm bệnh nhân có AML1/ETO dương tính có tuổi trung bình là: 26,94 ± 9,22, tỷ lệ thiếu máu nặng, xuất huyết, sốt đơn thuần, nhiễm trùng, gan to, lách to, hạch to, phì đại lợi theo thứ tự là 44%, 33%, 28%, 11%, 44%, 28%, 17% và 6%, có lượng Hb, số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu, số lượng tế bào tủy xương, tỷ lệ blast máu và tủy xương là 84,41 ± 28,97 g/l, 29,42 ± 31,36 G/l, 42,12 ± 33,83 G/l, 215,93 ± 134,42 G/l, 56,21 ± 26,58% và 65,14 ± 16,12%.
 

Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích

Leave a Comment