Nghiên cứu biến đổi gen pml/rar trên 21 bệnh nhân lơ xê mi cấp thể m3
Những kỹ thuật phân tử giúp chẩn đoán xác định chuyển đoạn nhiễm sắc thể phối hợp trong nghiên cứu bệnh máu ác tính đã góp phần quan trọng trong chẩn đoán xác định bệnh, tiên lượng bệnh, lựa chọn phương pháp điều trị và theo dõi đáp ứng sau điều trị. Phức hợp gen lai PML/RAR (promyelocytic leukemia/ retinoic acid receptor alpha) được hình thành do chuyển đoạn giữa nhiễm sắc thể 15 và 17 (t(15;17)) có ở các tế bào blast trong phần lớn các bệnh nhân lơ xê mi cấp thể M3 (lơ xê mi cấp tiền tủy bào) [5; 7]. Sự có mặt của gen này có giá trị tiên lượng tốt cho bệnh nhân. Các tế bào blast có gen lai PML/RAR đều nhậy cảm với trans – retinoic acid (ATRA) và dẫn chất này có khả năng biệt hóa các tế bào non ác tính thành tế bào trưởng thành. Phối hợp hóa trị liệu với ATRA đã trở nên thông dụng trong điều trị những bệnh nhân M3 có t(15;17) với gen lai PML/RAR. Người bệnh có thời gian sống không bệnh (DFS: disease free survive) trên 5 năm [5]. Gen lai PML/RAR có hai kiểu chính: L type (phiên mã dài) gồm bcr1 và bcr2, S type (phiên mã ngắn) là bcr3. Cũng có nhiều nghiên cứu so sánh đặc điểm lâm sàng, tế bào và đáp ứng điều trị của các type này nhưng chưa phát hiện được sự khác biệt đáng kể [5; 7].
Ngược với các bệnh nhân thể M3 có t(15;17) với PML/RAR, một số bệnh nhân thể M3 khác lại có t(11;15) tạo nên gen lai PLZF/ RARá. Thể này gần như không đáp ứng với ATRA và khó điều trị. Một thể hiếm gặp nữa của M3 là t(5,17) với biểu hiện của gen lai NPM/ RAR [5; 7].
Ba thể này gần như không có dấu hiệu riêng trên lâm sàng. Trên phương diện tế bào học, ở các blast ở bệnh nhân có t(11;15)với PLZF/ RAR và t(5;17) với NPM/ RAR có thể không phát hiện được các thể Auer trên kính hiển vi thường, trong khi đây là một đặc trưng ở các bệnh nhân có t(15;17) với PML/RAR [5]. Tuy nhiên đây không hẳn là một bằng chứng tin cậy để chẩn đoán xác định các thể biến đổi di truyền ở bệnh nhân lơ xê mi cấp M3. Trong khi biến đổi di truyền là một yếu tố quan trọng để tiên lượng bệnh và quyết định phương pháp điều trị.
Trên thế giới, hầu như chẩn đoán sinh học phân tử ở lơ xê mi cấp M3 là thường quy và tiên quyết trước khi tiến hành điều trị. Ở Việt Nam, từ năm 2000, Đỗ Trung Phấn và cộng sự đã có một số nghiên cứu về sử dụng ATRA trong điều trị lơ xê mi cấp thể M3 [1], Phạm Quang Vinh đã có nghiên cứu về biến đổi nhiễm sắc thể ở thể này [2]. Tuy nhiên những hiểu biết về biến đổi gen, về bản chất bệnh sinh của bệnh vẫn còn là những vấn đề lớn. Những yêu cầu về chẩn đoán và điều trị mới trên thế giới đòi hỏi ngành Huyết học – truyền máu ở Việt Nam cần áp dụng những kỹ thuật tiên tiến về gen để bắt kịp những tiêu chuẩn mới trong chẩn đoán, điều trị và tiên lượng bệnh lơ xê mi M3 nói riêng và lơ xê mi cấp nói chung. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu:
1. Nghiên cứu biến đổi gen PML/RAR ở bệnh nhân lơ xê mi cấp thể M3
2. Nghiên cứu một số chỉ số huyết học ở bệnh nhân M3 có biến đổi gen PML/RAR
I. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
21 bệnh nhân được điều trị ở viện Huyết học truyền máu TW và khoa Huyết học truyền máu bệnh viện Bạch mai với chẩn đoán lơ xê mi cấp thể M3 theo tiêu chuẩn của FAB, chưa được điều trị hóa chất từ 4/2007 đến tháng 7/2008 [4].
2. Phương pháp nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán lơ xê mi cấp thể M3 dựa trên triệu chứng lâm sàng và huyết tủy đồ
– hóa học tế bào theo tiêu chuẩn của FAB [4], làm các xét nghiệm đông máu chẩn đoán DIC (đông máu rải rác trong lòng mạch) dựa trên nghiệm pháp rượu và định lượng D Dimer, làm nhiễm sắc thể đồ xác định biến đổi nhiễm sắc thể và sử dụng kỹ thuật PCR để xác định biến đổi gen PML/RAR.
Tách chiết RNA
Tách bạch cầu từ 1ml dịch tủy xương chống đông bằng cách ly tâm với dung dịch phân giải hồng cầu, chiết tách ARN bằng RNeasy Plus Mini Kit.
Mục tiêu: (1). Nghiên cứu biến đổi gen PML/RAR ở bệnh nhân lơ xê mi cấp thể M3 . (2). Nghiên cứu một số chỉ số huyết học ở nhóm bệnh có PML/RAR dương tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 21 bệnh nhân đã được điều trị ở Viện Huyết học truyền máu TW và Khoa Huyết học truyền máu bệnh viện Bạch Mai với chẩn đoán lơ xê mi cấp thể M3 theo tiêu chuẩn của FAB, chưa được điều trị hóa chất từ 4/2007 đến tháng 7/2008. Những đối tượng này được làm các xét nghiệm tế bào, đông máu, phân tích nhiễm sắc thể và PCR xác định gen PML/RAR. Kết quả và kết luận: số bệnh nhân có PML/RAR dương tính là 14 chiếm 67% trong đó có 4 bệnh nhân không phát hiện được t(15;17) sau khi phân tích nhiễm sắc thể. Có 7 bệnh nhân thể bcr (50%), 3 bệnh nhân thể bcr2 (21,5%), 4 bệnh nhân thể bcr3 (28,5%). Số lượng bạch cầu và tế bào tuỷ xương của nhóm có PML/RAR dương tính là 5,08 ± 3,87 và 155,82 ± 106,21. Lượng D Dimer của nhóm có PML/RAR dương tính 1954,89 ± 1575,28. Tỷ lệ có DIC ở nhóm có PML/RAR dương tính là 93 %.
Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích