Nghiên cứu biểu hiện tổn thương thần kinh ngoại vi ở người trưởng thành suy thận mạn tính giai đoạn 4
Tổn thương thần kinh ngoại vi trên bệnh nhân Suy thận mạn (SThM) là một biến chứng thườnggặp. Biến chứng này có tỷ lệ khá cao, theo Bolton là 60%, Cosmo là 65%, Lai 73,68%, Liblom 83% , Krishnan là 93%, Nguyễn Trọng Hưng 100% [2, 5].
Sự hồi phục tổn thương thần kinh ngoại vi trong Suy thận mạn liên quan đến chỉ định điều trị lọc máu chu kỳ sớm hay muộn. Ở Việt Nam, một số tácgiả đó áp dụng phương pháp ghi điện sinh lý nghiên cứu biến chứng thần kinh ngoại vi ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối, kết quả cho biết hầu hết các bệnh nhân đã có biến chứng TKNV [2]. Chúng tôi nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân SThM giaiđoạn 4 (mức lọc cầu thận 15 – 29ml/phút) nhằm mục tiêu:
1. Mô tả biểu hiện lâm sàng tổn thương thầnkinh ngoại vi ở người trưởng thành suy thận mạn tính giai đoạn 4.
2. Mô tả biểu hiện điện sinh lý tổn thương thần kinh ngoại vi ở người trưởng thành suy thận mạn tính giai đoạn 4.Tổn thương thần kinh ngoại vi trên bệnh nhân suy thận mạn là một biến chứng thường gặp. Sự hồi phục tổn thương thần kinh ngoại vi trong suy thận mạn liên quan đến chỉ định điều trị lọc máu chukỳ sớm hay muộn. Mục tiêu:(1) Mô tả biểu hiện lâm sàng tổn thương thần kinh ngoại vi ở người trưởng thành suy thận mạn tính giai đoạn 4. (2) Mô tả biểu hiện điện sinh lý tổn thương thần kinh ngoại vi ở ngư ời trưởng thành suy thận mạn tính giai đoạn 4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:nghiên cứu mô tả cắt ngang 36 bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn 4 điều trị nội trú tại khoa Thận – Tiết niệu bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3/2008 đến 11/2008. Bệnh nhân được khám lâm sàng, xét nghiệm, ghi điện sinh lý tại phòng ghi điện cơ của viện Lão khoa Quốc Gia. Kết quả và kết luận:bệnh nhân có tổn thương trên lâm sàng là (41,7%). Nhóm triệu chứng rối loạn cảm giác chiếm tỷ lệ cao nhất (38,9%), giảm phản xạ gân xương (33,3%), bệnh nhân có bất thường trên điện sinh lý (72,2 %), tỷ lệnày cao hơn bất thường trên lâm sàng (41,7%). Tỷ lệ giảm biên độ đáp ứng của dây hông khoeo trong vận động (62,5%), tiếp theo là giảm biên độ đáp ứnghông khoeo ngoài (50%). Giảm tốc độ dẫn truyền thần kinh (TĐDTTK) hông khoeo trong vận động có tỷ lệcao nhất, tiếp theo là giảm TĐ DTTK hông khoeo ngoài với tỷ lệ tương ứng là 56,9% và 41,7%. Tỷ lệ giảm BĐ ĐƯ cao hơn tỷ lệ giảm TĐ DTTK ở các dây thần kinh nghiên cứu.
Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích