Nghiên cứu ca bệnh sán lá gan lớn fascioliasis ỏ miền bắc Việt Nam

Nghiên cứu ca bệnh sán lá gan lớn fascioliasis ỏ miền bắc Việt Nam

Bệnh sán lá gan lớn fascioliasis đã được thông báo ở nhiều tỉnh phía Nam nhưng ít được quan tâm ở các tỉnh miền Bắc. Trong hơn 2 năm (2002-2004) đã phát hiện 35 bệnh nhân sán lá gan lớn phân bốở 15 tỉnh thành miền Bắc bao gồm: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hà Tây, Phú Thọ, Nam Định, Hà Nam, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Theo dõi trên 35 bệnh nhân này, biểu hiện lâm sàng chính của bệnh sán lá gan lớn là đau hạ sườn phải (94,3%), sốt (60,0%), sụt cân (57,1%), ậm ạch khó tiêu (54,3%), rối loạn tiêu hoá (42,9%), đau thượng vị (42,9%), sẩn ngứa (17,1%), sán chui ra khớp gối (2,9%). Đặc biệt các dấu hiệu cận lâm sàng quan trọng như siêu âm gan có tổn thương âm hỗn hợp 100%, bạch cầu ái toan tăng cao (trong 97,1% trường hợp), tìm thấy trứng sán lá gan lớn trong phân 25,7%, ELISA(+) với kháng nguyên Fasciola gigantica 100%. Trứng sán lá gan lớn từ phân bệnh nhân được xác định là loài Fasciola gigantica và có xu hướng biến đổi theo thể lai với F. heptica.

Bệnh sán lá gan lớn (Fascioliasis) do loài sán Fasciola hepatica hoặc Fasciola gigantica gây nên. Loài sán này chủ yếu ký sinh ở động vật ăn cỏ nhưtrâu, bò…và gây bệnh ở người [4,8].
Fasciola hepatica được Linnaeus tìm ra năm 1758 và F. gigantica được Cobbold tìm ra năm 1856 tại Nhật Bản
F. hepatica lưu hành ở Triều Tiên, Tân Ghine, Tây Iran và một số vùng Nhật Bản.
F. gigantica lưu hành ở Thái Lan, Malaysia, Singaporvà Indonesia.
Cả hai loài này phân bố ở Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Lào, Campuchia và Philippin
Hopkins 1992 và Rim 1994 thông báo có 2,4 -17 triệu người có nguy cơ nhiễm sán lá gan lớn [9].
Sán lá gan lớn ký sinh ở người và động vật do ăn phải thực vật thuỷ sinh và uống nước lã có ấu trùng sán lá gan lớn.
Tại Việt Nam, Fasciola gigantica được Codvelle và cộng sựthông báo 1928 [8].
Từ năm 1978 Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh thông báo có 2 trường hợp sán lá gan lớn ở người, trong đó một trường hợp áp xe bắp chân và một trường hợp nhiễm 700 sán ở trong gan gây tử vong [8], nhưng không ghi rõ địa chỉ.
Năm 2001 Trần Vinh Hiển và cộng sự thông báo từ 1997 -2000 có 500 trường hợp nhiễm sán lá gan lớn Fasciola hepatica ò khu vực miền Nam được chẩn đoán bằng phản ứng miễn dịch ELISA. Trong số 393 bệnh nhân được biết rõ địa chỉ thuộc các tỉnh: Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên, Đà Nang, Lâm Đổng, Đak Lak, Bến Tre, Đổng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa- Vũng Tàu và TP. Hổ Chí Minh [4].
Năm 2002, Nguyễn Văn Đề và cộng sự tiến hành điều tra tại tỉnh Khánh Hoà có tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn 11,1%, cư dân có tập quán ăn thực vật thuỷsinh 99,8% [1].
Riêng ở miền Bắc, cho đến năm 2002 chưa có thông báo nào về bệnh nhân sán lá gan lớn với địa chỉ rõ ràng. Hơn nữa tổn thương gan do sán lá gan lớn gây ra dễ nhẩm với ung thư gan và áp xe gan dẫn đến điều trị nhẩm và nhiều hậu quả đáng tiếc xẩy ra. Do vậy, việc nghiên cứu ca bệnh sán lá gan lớn Fascioliasis ở khu vực miền Bắc là tối cẩn thiết không những giúp cho ngành Y học dự phòng hoạch định chiến lược phòng chống bệnh mà còn giúp khối bệnh viện chẩn đoán đúng nguyên nhân gây bệnh và điều trị có hiệu quả. Để có được những thông tin cẩn thiết về bệnh sán lá gan lớn khu vực phía Bắc và các bệnh viện từ trung ương đến địa phương cùng phối hợp với chúng tôi phát hiện sớm người nhiễm Fasciola góp phẩn phòng chống bệnh có hiệu quả trong cả nước, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mụcđích:
–    Đánh dấu bản đổ phân bố bệnh sán lá gan lớn được phát hiện tại các tỉnh ở miền Bắc
–    Mô tả các biểu hiện bệnh lý chính của bệnh sán lá gan lớn ở Việt Nam
II.    ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.    Chọn bệnh nhân:
1.1.    Nguồn bệnh nhân: Các bệnh nhân được gửi từ các bệnh viện lớn ở Hà Nội như: bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Hữu Nghị, bệnh viện Việt-Đức, bệnh viện E, bệnh viện Nhi Trung ương… với các hình ảnh có tổn thương gan (u gan hoặc áp xe gan)
1.2.    Lập bệnh án chi tiết, thống kê các biểu hiện lâm sàng chính của bệnh như: sốt, đau tức vùng gan (đau hạ sườn phải), ậm ạch khó tiêu, rối loạn tiêu hoá (đi ngoài phân nát), dị ứng (sẩn ngứa), sụt cân…
1.3.    Xét nghiệm một số chỉ số cận lâm sàng chủ yếu như:
–    Siêu âm gan để xác định tổn thương gan như: ổ giảm âm, đậm âm, áp xe, giả u… hoặc chụp CTscannergan.
–    Xét nghiệm phân tìm trứng sán lá gan lớn theo phương pháp Kato và Kato – Katz
-Xétnghiệm Máu:
+ Công thức bạch cẩu (chủ yếu bạch cẩu ái toan)
+ Một số chỉ số sinh hoá về gan, thận như: GOT, GPT, Urê, Creatinin
+ Làm phản ứng ELISA cho chẩn đoán và theo dõi
1.4.    Tiêu chuẩn bệnh nhân nghiên cứu: đạt 1 trong 2 tiêu chuẩn: có trứng sán lá gan lớn trong phân hoặc ELISA (+) từ 1/1.600 trở lên (theo quy định của Bộ môn Ký sinh trùng, Đại học Y – Dược TP HCM – nơi sản xuất kít, hiệu giá từ 1/800 là dương tính).
2.    Điểu trị bệnh nhân bằng Triclabendasole 10 mg/kg chia 2 lẩn cách nhau 6 -8 giờ (uống sau khi ăn no).
3.    Xác định thành phần loài sán lá gan
lớn từ trứng trong phân bệnh nhân bằng sinh học phân tử hệ gen ty thể
4.    xử lý số liệu bằng toán thông kê và sinh tin học

Thông tin này hy vọng sẽ gợi mở cho các bạn hướng tìm kiếm và nghiên cứu hữu ích

Leave a Comment