NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HEN PHẾ QUẢN Ở TẠI BỆNH VIỆN PHONG ĐIỀN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HEN PHẾ QUẢN Ở TẠI BỆNH VIỆN PHONG ĐIỀN
TÓM TẮT
Hen phế quản (HPQ) là bệnh mãn tính đường hô hấp phổ biến nhất trên thế giới, là gánh nặng của xã hội. Việc chẩn đoán và sử dụng các thuốc mới trong điều trị cắt cơn, kiểm soát dự phòng hen và các yếu tố liên quan ở trẻ em chưa được cập nhật. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này với các mục tiêu sau:
– Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố liên quan của bệnh hen phế quản ở trẻ em.
– Phân tích , đánh giá tình hình sử dụng thuốc điều trị hen phế quản.
Nghiên cứu 71 trẻ bị HPQ được điều trị tại BV phong điền trong 1 năm (9/2008 đến 8/2009) theo phương pháp tiến cứu cắt ngang mô tả.
HPQ không phải là bệnh hiếm, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nhiều nhất là nhóm dưới 2 tuổi chiếm 50,7%, nam nhiều hơn nữ (1,73nam/nữ). các triệu chứng lâm sàng thường gặp ho(88,7), sốt(53,5), thở nhanh(59,1), rút lõm lồng ngực(54,9%), ran rít ngáy(100%), cò cử khó thở ra(85,9%)…có ít biển đổi về công thức máu và X quang phổi.
Thuốc được dùng nhiều để điều trị HPQ là nhóm thuốc đồng vận β2 tác dụng nhanh và đồng vận β2 tác dụng ngắn đường uống(100%), Ventolin MDI là 67,6%, corticoid 100%, kháng sinh 66,2%, tất cả đều đáp ứng với điều trị. Có 74,6% các trẻ có người thân mắc các bệnh có liên quan dị ứng như: hen, chàm, viêm mũi dị ứng; 69% trẻ lên cơn hen khi thay đổi thời tiết.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen phế quản (HPQ) là bệnh mãn tính đường hô hấp phổ biến nhất trên thế giới. Đặc biệt trong những thập niên gần đây số người mắc hen phế quản ngày càng có xu hướng tăng lên[1][7][8].
Theo tổ chức y tế thế giới (1995) ở trẻ em là 10%. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc hen phế quản tăng lên gấp đôi trong vòng 20 năm lại đây[7]. Ở Đông Nam Á, trong 20 năm từ 1974-1994, tỷ lệ hen phế quản tăng 3-4 lần, nhất là trẻ em dưới 15 tuổi[2]. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc hen khoảng 5%, tỷ lệ này ở trẻ em gia tăng từ 4% năm 1984 lên 11,6% năm 1994. Tại BV Nhi đồng I tỷ lệ khò khè ở trẻ em 12-13 tuổi là 29,1%. Tại Hà nội, tỷ lệ hen ở trẻ em từ 5-11 tuổi là 13,9%[7].
Chẩn đoán hen ở trẻ em khó hơn ở người lớn vì triệu chứng lâm sàng không rõ ràng. Nguyên nhân khò khè, ho ,khó thở ở lứa tuổi này rất phức tạp và việc tiến hành thăm dò các chức năng hô hấp khó thực hiện được.
Trong tình hình gia tăng hen phế quản ở trẻ em như hiện nay, việc chẩn đoán và sử dụng các thuốc mới trong điều trị cắt cơn, kiểm soát dự phòng hen ở trẻ em chưa được cập nhật. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến hen phế quản ở trẻ em tại Bệnh Viện Phong Điền” với các mục tiêu sau:
1- Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố liên quan của bệnh hen phế quản ở trẻ em.
2- Phân tích , đánh giá tình hình sử dụng thuốc điều trị hen phế quản.
Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất