Nhận xét về đặc điểm cận lâm sàng của thai phụ sản giật tại Bệnh viện phụ sản trung ương

Nhận xét về đặc điểm cận lâm sàng của thai phụ sản giật tại Bệnh viện phụ sản trung ương

Nhận xét về đặc điểm cận lâm sàng của thai phụ sản giật tại Bệnh viện phụ sản trung ương
Đặng Thị Minh Nguyệt, Đỗ Tuấn Đạt
Đại học Y Hà Nội
Tóm tắt
Mục  tiêu:  Mô  tả  đặc  điểm  cận  lâm  sàng  của  thai phụ  sản  giật  tại  BVPSTƯ  trong  3  năm  từ  01/01/2008 đến  31/12/2010.  Đối  tượng  và  phương  pháp  nghiên cứu: Hồi cứu mô tả trên 81 bệnh án sản giật được nhập viện và điều trị tại viện Phụ Sản Trung Ương từ 2007–2010. Kết quả: protein niệu âm tính chiếm tỷ lệ 2,5%. Tỷ  lệ  protein  niệu  dương  tính  <  3g/l  chiếm  tỷ  lệ  cao nhất 55,5%. Tỷ lệ protein niệu d-ơng tính  =3g/l chiếm tỷ lệ 42%. tỷ lệ ure máu  =6,6 mmol/l chiếm tỷ lệ cao 64,2%. Tỷ lệ creatinin máu =106àmol/l chiếm tỷ lệ cao 74,1%. Men gan SGOT =70 UI/l chiếm tỷ lệ 35,8% và SGPT =70 UI/l chiếm tỷ lệ 30,9%. Tổng số 22/81 bệnh nhân  (27,2%)  có  l-ợng  tiểu  cầu  <100.000/mm³  máu, l-ợng  tiểu  cầu  =100.000/mm³  chiếm  72,8%.  Lượngprotein  máu  =40g/l  chỉ  có  1  bệnh  nhân  chiếm  tỷ  lệ 1,2%. Tổng số 37/81 bệnh nhân (45,7%) có lượng aciduric  =500àmol/l, tăng trên 500àmol/l chiếm 54.3%.Kết luận: Protein niệu  =3g/l chiếm tỷ lệ cao 55,5%. L-ợng tiểu cầu <100.000/mm³ chiếm tỷ lệ 22,2%. L-ợng aciduric máu >500àmol/l chiếm tỷ lệ cao 54,3%

 

Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất

Leave a Comment