SO SÁNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, HO RA MÁU DO LAO PHỔI MỚI VÀ LAO PHỔI ĐÃ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG

SO SÁNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, HO RA MÁU DO LAO PHỔI MỚI VÀ LAO PHỔI ĐÃ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG

SO SÁNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, HO RA MÁU DO LAO PHỔI MỚI VÀ LAO PHỔI ĐÃ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG

Hà Thị Tuyết Trinh Khoa Khám bệnh – Bệnh viện Phổi TW

 Mục tiêu: So sánh đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ho ra máu do lao phổi mới và lao phổi đã điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 138 bệnh nhân ho ra máu tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ 6/2003 – 6/2004 chia 02 nhóm:

Nhóm 1: Ho ra máu do lao phổi mới gồm (n=63).

Nhóm 2: Ho ra máu do lao phổi đã điều trị gồm (n=75)

Kết quả nghiên cứu cho biết:

– Lứa tuổi từ 16 – 34 gặp ở nhóm 1, và trên 44 tuổi hay gặp ở nhóm 2.

– Mức độ ho ra máu nhẹ thường gặp ở nhóm 1, ho ra máu nặng thường gặp ở nhóm 2.

– Thời gian ho ra máu từ 1 đến 3 ngày gặp ở nhóm 1 là 55,6% so với nhóm 2 là 34,7%.

– Thời gian ho ra máu kéo dài > 12 ngày gặp ở nhóm 2 (21,3%) so với nhóm 1 (6,3%).

– Kết quả đời soi kính trực tiếp tìm vi khuẩn lao. Kết quả (+) ở nhóm lao phổi mới (56,5%) cao hơn nhóm đã điều trị 32% (P < 0,01).

Kết quả MGIT và PCR cùng cho kết quả (+) ở nhóm lao mới nhiều hơn nhóm bệnh nhân đã điều trị.

Tỷ lệ tương ứng 73,7% và 88,9% so với 41,2% và 45,5% (P < 0,05).

– Tổn thương thâm nhiễm nốt gặp nhiều ở bệnh nhân lao phổi mới, với tổn thương xơ vôi hay gặp ở bệnh nhân đã điều trị.

 

Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất

Leave a Comment