Sử DụNG VạT Tổ CHứC TạI CHỗ TRONG TạO HìNH SẹO BỏNG VùNG Cổ MặT

Sử DụNG VạT Tổ CHứC TạI CHỗ TRONG TạO HìNH SẹO BỏNG VùNG Cổ MặT

Sử DụNG VạT Tổ CHứC TạI CHỗ TRONG TạO HìNH SẹO BỏNG VùNG Cổ MặT

Nguyễn Thanh Hải -Bệnh Viện Phú Nhuận
Đỗ Duy Tính -Bệnh Viện TW Quân Đội 108
TóM TắT
Chúng  tôi  nghiên  cứu  một  nhóm  gồm  70  bệnh nhân có sẹo vùng cổ mặt do di chứng bỏng đã được tạo hình bằng vạt tổ chức tại chỗ bao gồm các hình 
thức: cắt khâu thu tại chỗ, vạt chữ Z, vạt xoay từ các vùng lân cận, hoặc phối hợp các phương pháp trên. Nhận  thấy  kết  quả  đạt  được  về  mặt  chức năng  đều tốt,  không  có  trường  hợp  nào  kém.  Kết  quả  về  mặt thẩm mỹ tương đối tốt, có 2 trường hợp kết quả kém do sẹo  xấu. Sử dụng vạt tổ chức tại chỗ là chất liệu tốt để tạo hình các tổn khuyết vùng cổ mặt do tương đồng màu sắc và cấu trúc với tổn thương, sẽ mang lại kết quả tốt về chức năng và thẩm mỹ
ĐặT VấN Đề
Vùng cổ mặt là nơi lộ nhất của cơ thể con người, nó không những là nơi biểu hiện cảm xúc, tình cảm, nét thẩm mỹ của con người mà còn là nơi chứa nhiều cơ quan chức năng quan trọng. Đối với phần lớn các khuyết da vùng cổ mặt, người ta có thể sử dụng các tổ  chức  tại  chỗ  để  tạo  hình  khi  điều  kiện  cho  phép. Phương  pháp  này  vừa  đơn  giản  dễ  thực  hiện,  vừa phục  hồi  lại  được  hình  thái,  chức  năng  và  thẩm  mỹ của  các  cơ  quan  bị  tổn  thương. Vấn  đề  sử  dụng  tổ chức  tại  chỗ  để  điều  trị  các  tổn  khuyết  do  di  chứng bỏng vùng cổ mặt chưa có công trình nghiên cứu nào cụ  thể  và  việc  áp dụng  các  phương  pháp  này  cũng chưa  được  xem  xét  một  cách  tỉ  mỉ.  Từ  thực  tế  trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm: Nhận xét đặc điểm lâm sàng của sẹo bỏng vùng cổ mặt, chọn lựa phương pháp phẫu  thuật thích hợp với từng loại sẹo bỏng, đánh giá kết quả phẫu thuật đạt được.
TàI LIệU THAM KHảO
1.  Nguyễn  Bắc  Hùng  (2000)  Bài  giảng  phẫu  thuật tạo hình, đại học Y Hà Nội, tr 34-35, 62-64.
2.  Mai Đình Hưng (1984), “ Sử dụng vạt da cơ ngực lớn  và  da  cơ  ức  đòn  chủm  trong  phẫu  thuật  tạo  hình vùng cổ mặt” Số chuyên đề đại hội răng hàm mặt Việt Nam lần thứ XI, tr 97-99.
3.  Nguyễn  Huy  Phan(1996),  “  Đóng  kín  khuyết  da niêm mạc bằng vạt kế cận”, Bài giảng lớp tạo hình  –vi phẫu, tháng 7.
4.  Lê  Thế  Trung  (1997)  Bỏng- Những  kiến  thức chuyên ngành, nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr4-52.
5.  Bạch  Quang  Tuyến  (1995)  Phẫu  thuật  tạo  hình điều  trị  di  chứng  sẹo  bỏng  cổ  cằm,  luận  văn  chuyên khoa II, học viện quân Y, tr 1-6.
6.  Đỗ  Duy  Tính  (1993),  “  Phân  loại  sẹo  co  kéo  cổ mặt và phưong pháp điều trị bằng tổ chức tại chỗ”, tạp chí Y Học Quân Sự, số 1, tr 96.
7.  Lê Gia Vinh, “ Cấp máu cho da”, tạp chí Hình Thái Học, tổng hội Y- Dược học Việt Nam, tập 10, số 1, tr 66-71.
8.  Davis  J.S.  (1981),  “  The  relaxation  of  scar contructures  by  means  of  Z  type  incision”,  Annual Surgery, 94, pp. 871-883. 
9.  Rollin  K. Daniel,  Carrolyn  L.  Kerrigan  (1993),  “ Principles  and  physiology  of  skin  flap  surgery”,  plastic reconstructive surgery, Vol.1, pp.275-325.
10.  Thomas  D.,  Corhn  Alfolso  B.(1996),  “ Deformities  of  cervical  region”,  Plastic  reconstructive surgery, pp.431-435.

 

Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất

Leave a Comment