TẦN SUẤT VÀ MỨC ĐỘ CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH NHÂN VIÊM MŨI XOANG MÃN TÍNH ĐƯỢC PHẪU THUẬT NỘI SOI CHỨC NĂNG XOANG
Nghiên cứu 101 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán viêm mũi xoang mạn tính (VMXMT) và phẫu thuật nội soi (PTNS) chức năng xoang tại Khoa Mũi Xoang, Bệnh viện Tai Mũi Họng TW từ tháng 01 – 2007 đến 01 – 2009. Thống kê, so sánh tần suất xuất hiện và mức độ trầm trọng của các triệu chứng ở thời điểm chẩn đoán và sau phẫu thuật 1 năm. So sánh mức độ tương quan giữa tần suất và mức độ trầm trọng của các triệu chứng.
Kết quả: các triệu chứng có tần suất xuất hiện nhiều nhất là: ngạt tắc mũi 81,5%, chảy mũi sau 82,1%, xung huyết mặt 78,9%, đau vùng mặt/tức nặng mặt 77,6%, mủ trong hốc mũi 27,1%. Các triệu chứng có mức độ trầm trọng cao nhất là: ngạt tắc mũi (5,6 ± 0,3%), chảy mũi sau (5,7 ± 0,3%), xung huyết mặt (5,2 ± 0,3%), giảm ngửi (5,0 ± 0,3%), đau vùng mặt (4,8 ± 0,3%). Có tương quan chặt chẽ trong cải thiện giữa các triệu chứng đau nhức mặt, xung huyết mặt, ngạt tắc mũi và đau đầu.
Viêm mũi xoang mạn tính là bệnh lý thường gặp, ảnh hưởng đến sức khỏe của BN cũng như phát triển kinh tế xã hội. Năm 1997, Viện Hàn lâm Tai Mũi Họng và Phẫu thuật đầu cổ Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về triệu chứng viêm xoang. Định nghĩa VMXMT khi có ít nhất hai triệu chứng chính hoặc một triệu chứng chính và hai triệu chứng phụ, các triệu chứng tồn tại > 3 tháng.
Chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu: Xác định tần suất và mức độ triệu chứng của BN VMXMT được PTNS chức năng xoang nhằm góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và chỉ định điều trị phẫu thuật.
Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất