Thực trạng tuân thủ điều trị thuốc chống ngưng kết tiểu cầu ở người bệnh nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp tại Viện Tim mạch Quốc gia
Luận văn Thực trạng tuân thủ điều trị thuốc chống ngưng kết tiểu cầu ở người bệnh nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp tại Viện Tim mạch Quốc gia
Nhồi máu cơ tim (NMCT) là tình trạng hoại tử một vùng cơ tim – một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Mỹ và các nước châu Âu. Hàng năm tại Mỹ có khoảng 865000 người nhập viện vì NMCT cấp và trong số đó có 1/3 là NMCT cấp có ST chênh lên[1],[2].
Mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, nhưng nhồi máu cơ tim cấp vẫn là một loại bệnh nặng, diễn biến phức tạp, có nhiều biến chứng nguy hiểm luôn đe doạ tính mạng người bệnh, vì thế có tỷ lệ tử vong cao. Tại Việt nam, theo thống kê của Tổng hội Y Dược học năm 2001, tỷ lệ tử vong do nguyên nhân bệnh tim nói chung là 7,7% đứng thứ hai sau nguyên nhân sản khoa 11,3%. Trong đó 1,02% chết vì nhồi máu cơ tim[3]. Đặc biệt với việc áp dụng can thiệp động mạch vành trong điều trịNMCT cấp đã cho ưu thế hơn hẳn về hiệu quả sớm cũng như lâu dài so vớicác phương pháp điều trị kinh điển. Nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiêncho thấy những ưu thế hơn hẳn của can thiệp động mạch vành đối với tỷ lệthành công của việc khôi phục dòng chảy, tỷ lệ nhồi máu tái phát thấp hơn, tỷlệ biến chứng chảy máu cũng như tỷ lệ tử vong đều thấp hơn và thời gian nằmviện cũng ngắn hơn[4][5][6][7]. Do đó, can thiệp động mạch vành trong điềutrị NMCT cấp đã dần được áp dụng rộng rãi trên thế giới.
Tuy nhiên, hiệu quả lâu dài bị hạn chế do hiện tượng tái hẹp trong lòngmạch đã được can thiệp. Việc dùng các thuốc chống đông, thuốc chốngngưng kết tiểu cầu đúng cách, đủ liều rất quan trọng trong việc hỗ trợ điều trịtrước và sau can thiệp động mạch vành [8]. Hiện nay tại các bệnh viện nóichung, việc tuân thủ thuốc của người bệnh chỉ được kiểm soát trong quá trìnhngười bệnh nằm viện. Sau khi được ra viện, việc duy trì thuốc hỗ trợ điều trịsau can thiệp của người bệnh lại tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như tác dụng phụ của thuốc, chi phí điều trị, thời gian điều trị, sử dụng kết hợp vớithảo dược[9][10]. Tuy vậy, hiện nay trên thế giới, có rất ít nghiên cứu về tuânthủ điều trị thuốc chống ngưng kết tiểu cầu ở những bệnh nhân có can thiệptim mạch. Nghiên cứu của Latry P, Martin-Latry và cộng sự về sự tuân thủđiều trị thuốc chống ngưng kết tiểu cầu sau can thiệp động mạch vành qua dasử dụng dữ liệu tổng hợp của cơ quan bảo hiểm y tế ở Pháp năm 2012 chothấy trong 634 người bệnh trong nghiên cứu này thì có 5,4% người bệnhkhông tuân thủ điều trị ngay khi xuất viện, 18,6% người bệnh không tuân thủ ít nhất một tháng trong ba tháng đầu sau can thiệp và có đến 49,1% người bệnh không tuân thủ điều trị sau 12 tháng can thiệp [11]. Nghiên cứu của Kubica A và cộng sự cho thấy rằng việc điều trị kháng tiểu cầu kép (aspirin và clopidogrel) sau khi can thiệp mạch vành là tiêu chuẩn để phòng ngừa các nguy cơ tim mạch thứ cấp. Việc không tuân thủ điều trị có liên quan chặt chẽ đến nguy cơ nhồi máu cơ tim (tăng gấp 2 lần), nguy cơ tăng gấp 4 lần hội chứng mạch vành cấp, tăng gấp 2 lần chi phí nằm viện và điều trị [12]. Do đó việc nghiên cứu về việc tuân thủ điều trị thuốc chống ngưng kết tiều cầu sau khi bệnh nhân được can thiệp động mạch vành là rất quan trọng. Điều này giúp các nhà quản lý có một cách nhìn tổng quát nhất giúp việc lập kế hoạch
và có chính sách để bệnh nhân tuân thủ điều trị một cách cao nhất. Viện Tim mạch Việt Namlà đơn vị mũi nhọn của Bệnh viện Bạch Maivà của Ngành trong việc ứng dụng các kỹ thuật cao để chẩn đoán và điều trị những bệnh lý về Tim mạch.Viện đã triển khai được nhiều nghiên cứu về các phương pháp phòng, điều trị các bệnh Tim mạch ở Việt Nam [3]. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về tuân thủ quy trình điều trị thuốc chống ngưng kết tiểu cầu sau can thiệp động mạch vành ở người bệnh nhồi máu cơ tim tại Việt Nam nói chung và tại Viện Tim Mạch nói riêng.Vậy câu hỏi đặt ra là tỷ lệ người bệnh tuân thủ quy trình điều trị thuốc sau can thiệp động mạch vành trong nhồi máu cơ tim là bao nhiêu và liệu có yếu tố nào liên quan đến sự tuân thủ quy trình điều thuốc của người bệnh không?
Để trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu —Thực trạng tuân thủ điều trị thuốc chống ngưng kết tiểu cầu ở người bệnh nhồi máu
cơ tim cấp được can thiệp tại Viện Tim mạch Quốc gia” với hai mục tiêu
sau:
1.Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị thuốc chống ngưng kết tiểu cầu ở người bệnh nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp tại Viện Tim mạch Quốc gia đến tái khám từ 10/2014 đến 06/2015.
2.Phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thuốc chống ngưng kết tiểu cầu ở người bệnh nêu trên.
1.American Heart Association (2006), Heart Disease and Stroke Statistic-
2006 Update
2.Nguyễn Lân Việt và cộng sự (2003), Thực hành Bệnh Tim mạch, Thực hành Bệnh Tim mạch, Nhà xuất bản y học, 46-65.
3.Bệnh viện Bạch Mai (2014), Viện tim mạch Bạch Mai, chủ biên.
4.Mehta RH, Sadiq I và Goldberg RJ (2004), “Effectiveness of Primary
Percutaneous Coronary Intervention Compared With That of
Thrombolytic Therapy in Elderly Patients With Acute Myocardial
Infarction”, Am Heart J, (147), tr. 253-259.
5.Gerrit V, Menko-Jan DB và Felix Z (1999), “Improvement in Three-
Month Angiographic Outcome Suggested After Primary Angioplasty
for Acute Myocardial Infarction (Zwolle Trial) Compared With
Successful Thrombolysis “, Am J Cardiol, (84), tr. 734-767.
6.Douglas GE và Ronald EV (1998), “Acute Myocardial Infarction:
Thrombolysis, Angioplasty or Stenting”, Indian Heart J, (50), tr. 2272-2286.
7.Adnan K, Julinda M, Stefan N và các cộng sự. (2004), “A Randomized
Trial Comparing Myocardial Salvage Achieved by Stenting Versus
Balloon Angioplasty in Patients With Acute Myocardial Infarction
Considered Ineligible for Reperfusion Therapy”, J Am Coll Cardiol,
(43), tr. 734-41.
8.Rogers WJ, Bowlby LJ và Chandra NC (1994), “Treatment of
myocardial infarction in the United States (1990-1993). Observations
from the national registry of myocardial infarction”, Circulation, (90),
tr. 2103-2114.
9.Van de Bemt BJ, Van de Hoogen FH và Benrrad B (2009), Adherence
rates and associations with nonadherence in patients with rheumatoid
arthritis using disease modifying antirheumatic drugs, J Rheumatol,
truy cập ngày 28/08-2014, tại trang web Adherence rates and
associations with nonadherence in patients with rheumatoid arthritis
using disease modifying antirheumatic drugs.
10.Aẹikgốz SK, Aẹikgốz E, Topal S và các cộng sự. (2014), Effect of
herbal medicine use on medication adherence of cardiology patients,
truy cập ngày 28/08-2014, tại trang web
http://www.ncbi.nlm.nih. gov/pubmed/25146069.
11.Latry P, Martin-Latry K, Lafitte M và các cộng sự. (2012), Dual
antiplatelet therapy after myocardial infarction and percutaneous
coronary intervention: analysis of patient adherence using a French
health insurance reimbursement database., truy cập ngày 31/08-2014,
tại trang web http://www. ncbi.nlm. nih.gov/pubmed/22522552.
12.Kubica A, Obonska K, Kasprzak M và các cộng sự. (2015), “Prediction
of high risk of non-adherence to antiplatelet treatment.”, Polish Heart
Journal.
13.The joint european society of cardiology (2000), “Myocardial
infarction redefined “, Eur Heart J, tr. 1520-1513.
14.Fuster V, Badimon L và Badimon JJ (1992), “The pathogenesis of
coronary artery disease and the acute coronary syndromes”, N Engl J
Med, (326), tr. 242-250.
15.Frans VW và Donald SB (2002), “Reperfusion for ST-Segment
Elevation Myocardial Infarction”, Circulation, (105), tr. 2813-2816.
16.Flavio R và William W (2002), “Acute Myocardial Infarction:
Reperfusion Treatment”, Heart, (88), tr. 298-305.
17.Antman EM và Eugence B (2001), “Acute Myocardial Infarction”,
Heart Disease, tr. 1114-1219.
18.Nguyễn Huy Dung và cộng sự (2004), “Lựa chọn các phương thức xử
trí nhồi máu cơ tim”, Phụ trương Tạp chí Tim mạch học, 38(Khuyến
cáo xử trí các bệnh lý tim mạch chủ yếu ở Việt nam), tr. 203-247.
19.Topol E (2008), Textbook of Interventional Cardiology, Sauder
Elsevier, The 5th Edition, ed, Restenosis, 567-580.
20.Sobel BE (2001), “Aceeleration of restenosis by diabetes: pathogenetic
implications”, Circulation, (103), tr. 1185-1187.
21.Weintraub SB, Gebhart SP và Cohen-Bernstein CL (1995), “Influence
of diabetes mellitus on early and late outcome after percutaneous
transluminal coronary angioplasty”, Circulation, (91), tr. 979-989.
22.Moliterno DJ, Yakubov SJ và DiBattiste PM (2002), “Outcome at 6
months for the direct comparison of tirofiban and abciximab during
percutaneous coronary revascularisation with stent placement: the
TARGET follow-up”, Lancet, (360), tr. 355-360.
23.Aronson D, Bloomgarden Z và Rayfield EJ (1996), “Potential
mechanisms promoting restenosis in diabetes patients”, J Am Coll
Cardiol, (27), tr. 528-535.
24.Phạm Gia Khải và Nguyễn Lân Việt (1997), Nhồi máu cơ tim, Bài
giảng bệnh học nội khoa, Nhà xuất bản Y học.
25.Nguyễn Lân Việt và Nguyễn Quang Tuấn (2008), Khuyến cáo 2008
của Hội Tim mạch học Việt Nam về xử trí nhồi máu cơ tim cấp có đoạn
ST chênh lên, Nhà xuất bản Y học.
26.Antiplatelet Trialist’s Collaboration (1988), “Secondary prevention of
vascular disease by prolonged anti-platelet therapy”, Br Med J, (296),
tr. 320.
27.Braunwald E, Antman EM và Beasely JW (2000), “ACC/AHA
guidelines for the management of patients with unstable angina and
non-ST-segment elevation myocardial infarction: a report of the
American College of Cardiology / American Heart Association Task
Force on Practice Guidelines”, JAm Coll Cardiol, (36), tr. 970-1062.
28.Yusuf S (2001), The Clopidogrel in Unstable angina to prevent
Recurrent Events (CURE) trial, Presented at the 50th Annual Scientific
Session of the American College of Cardiology in Orlando, Florida.
29.Schomig A, Dibra A, Windecker S và các cộng sự. (2007), “A meta-
analysis of 16 randomized trials of sirolimus-eluting stents versus
paclitaxel-eluting stents in patients with coronary artery disease”, J Am
Coll Cardiol, (50), tr. 1373-1380.
30.Topol E (1998), “Evaluation in PTCA to Improve Long term Outcome
with abciximab GB IIB IIIA Blockade Study Goup Stent (EPISTENT)
trial”, (352), tr. 87-92.
31.Montalesoct G, Wiviott SD, Braunwald E và các cộng sự. (2009),
“Prasugrel compared with clopidogrel in patients undergoing
percutaneous coronary intervention for ST-elevation myocardial
infarction (TRITON-TIMI 38): double-blind, randomized controlled
trial”, Lancet, (373), tr. 723-731.
32.Wallentin L, Becker RC, Budaj A và các cộng sự. (2009), “Ticagrelor
versus clopidogrel in patients with acute coronary syndromes “, N Engl
JMed, (361), tr. 1045-1057.
33.Bhatt D, Lincoff AM, Gibson CM và các cộng sự. (2009), “Intravenous
platelet blockade with cangrelor during PCI”, NEngl JMed, (361), tr.
2330 – 2341.
34.Harrington R, Stone GW, McNulty S và các cộng sự. (2009), “Platelet
inhibition with cangrelor in patients undergoing PCI”, N Engl J Med,
(361), tr. 2318-2329.
35.Scrutinio D, Cimminiello C, Marubini E và các cộng sự. (2001),
“Ticlopidine versus aspirin after myocardial infarction (STAMI) trial”,
JAm Coll Cardiol, (37), tr. 1259-1265.
36.Lincoff AM, Harrington RA, Califf RM và các cộng sự. (2000), “For
the PURSUIT trial investigator. Management of patients with ACS in
the US by platelet IIb/IIIa inhibitor: Insight from the Platelet IIb/IIIa in
Unstable Angina: Receptor suppression using Intergrilin therapy
(PURSUIT) trial”, Circulation, (102), tr. 1093-1100.
37.Braunwald E, Antman E và et al (2002), “ACC/AHA guidelines update
for the management of patients with unstable angina and no-ST-
segment elevation myocardial infarction: a report of the American
College of Cardiology/ American Heart Association Task Force on
Pratice Guidelines (Committee on the Management of Patients With
Unstable Angina)”, JAm Coll Cardiol, (40), tr. 1366.
38.Antman E và et al (2013), “ACCF/AHA Focused Update Incorporated
Into the ACCF/AHA 2007 Guidelines for the Management of Patients
With Unstable Angina/Non-ST-Elevation Myocardial Infarction: A
Report of the American College of Cardiology Foundation/American
Heart Association Task Force on Practice Guidelines “, Circulation,
127, tr. 663-828.
39.Hosrem (2008), Vài nét về vấn đề tuân thủ điều trị truy cập ngày 25/08-
2014,tạitrangweb
http://www.hosrem.org.vn/index.php?option=com content&view=artic
le&id= 145: vai-net-v-vn-tuan-th-iu-tr&catid=7 6: tin-the-
gioi&Itemid=80.
40.Hồ Thượng Dũng (2013), Vấn đề tuân thủ thuốc kháng tiểu cầu và các
kết cục, TP HCM.
41.Đinh Thị Tú Anh (2013), Tìm hiểu sự hiểu biết và tuân thủ điều trị
thuốc chống đông ở bệnh nhân sau mổ thay ban tim cơ học tại Khoa
Phẫu thuật tim mạch-lồng ngực, Bệnh viện Việt Đức, Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân Y khoa, Đại học Y Hà Nội.
42.Czarny MJ, Nathan AS, Yeh RW và các cộng sự. (2014), Adherence to
dual antiplatelet therapy after coronary stenting: a systematic review.,
truy cập ngày 31/08-2014, tại trang web
http: //www.ncbi.nlm. nih. gov/pubmed/24797884.
43.Bird GC, Cannon CP và Kennison RH (2011), Results of a survey
assessing provider beliefs of adherence barriers to antiplatelet
medications., truy cập ngày 31/08-2014, tại trang web
http://www.ncbi.nlm.nih. gov/pubmed/21989034.
44.Chrzanowska A, Batko B, Hajdyla-Banas I và các cộng sự. (2014),
Adherence to disease-modifying antirheumatic drugs in patients with
rheumatoid arthritis, truy cập ngày 28/08-2014, tại trang web
http: //www.ncbi.nlm. nih. gov/pubmed/25141578.
45.Phạm Gia Khải, Nguyễn La □ n Viẹ □ t, Đỗ Doãn Lợi và các cộng sự.
(2008), Khuyến cáo 2008 của Họ □ i Tim mạch học Viẹ □ t Nam về đánh
giá, dự phòng và quản lý các yếu tố nguy co □ tim mạch. , Khuyến cáo
2008 về các bẹ □ nh tim mạch và chuyển hóa. , tri -19.
46.Urban P, Gershlick AH, Guagliumi G và các cộng sự. (2006), “Safety
of coronary sirolimus-eluting stents in daily clinical practice: one-year
follow-up of the e-Cypher registry”, Circulation, 113, tr. 1434 -1441.
47.Petersen JL, Barron JJ, Hammill BG và các cộng sự. (2010),
“Clopidogrel use and clinical events after drug-eluting stent
implantation: findings from the HealthCore Integrated Research
Database. “, Am Heart Journal, 159, tr. 462 – 470.
48.Ko DT, Chiu M, Guo H và các cộng sự. (2009), “Patterns of use of
thienopyridine ther-apy after percutaneous coronary interventions with
drug-eluting stents and bare-metal stents. “, Am Heart Journal, 158, tr.
592 -598.
49.Ikari Y, Kotani J, Kozuma K và các cộng sự. (2009), “Assessment of
sirolimus-eluting coronary stent implantation with aspirin plus low
dose ticlopidine administration — one year results from CYPHER stent
Japan Post-Marketing Surveillance Registry (J-PMS). “, Circulation
Journal, 73, tr. 1038 – 1044.
50.Võ Thị Dễ (2010), “Sự tuân thủ điều trị thuốc chống kết tập tiểu cầu
của bệnh nhân đặt stent động mạch vành tại bệnh viện Chợ Rẫy và
bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007 -2008 “,
Tạp chí Y học thực hành, 730(8), tr. 34 – 36.
51.Matthew J. Czarny, Ashwin S. Nathan, Robert W. Yeh và các cộng sự.
(2014), “Adherence to dual-antiplatelet therapy after coronary stenting:
a systematic review”, Clin Cardiol, 37(8), tr. 505-513.
52.George D. Dangas, Bimmer E. Claessen3, Roxana Mehran và các cộng
sự. (2013), “Stent thrombosis after primary angioplasty for STEMI in
relation to non-adherence to dual antiplatelet therapy over time: results
of the HORIZONS-AMI trial”, Euro Intervention 2013, 8, tr. 1033-
1039.
53.Andrew Czarnecki, Treesa J Prasad, Julie Wang và các cộng sự.
(2015), “Adherence to process of care quality indicators after
percutaneous coronary intervention in Ontario, Canada: a retrospective
observational cohort study”, Open Heart 2015, tr. 2.
ĐẶT VẤN ĐỀ1
Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn, cũng như mở ra con đường nghiên cứu, tiếp cận được luồng thông tin hữu ích và chính xác nhất