Tìm hiểu đặc điểm mô hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Tim mạch Việt Nam trong thời gian năm (2003-2007).

Tìm hiểu đặc điểm mô hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Tim mạch Việt Nam trong thời gian năm (2003-2007).

Luận văn Tìm hiểu đặc điểm mô hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Tim mạch Việt Nam trong thời gian năm (2003-2007).Bênh tim mạch (BTM) ngày nay đang là thách thức y tế’ toàn cầu và sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tạt trên toàn thế’ giới vào näm 2020 [43].

Hiên nay, tỷ lê mắc và tử vong do BTM trên toàn thế’ giới khá cao 10,3% và 30,9% [58] với khoảng 200 triêu người trên toàn thế’’ giới có biểu hiên lâm sàng của các bênh mạch vành, đôt quị, các bênh khác do tắc mạch và biến chứng tim mạch do đái tháo đường. Bênh tim và đôt quị gây tử vong cho khoảng 17 triêu người mỗi näm, trong khi đó số người tử vong hàng näm do đại dịch HIV/AIDS là khoảng 3 triêu người. 80% số bênh nhân tử vong do BTM là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. ở các nước phát triển, số người tử vong do cän nguyên tim mạch chiếm 3/4 số người tử vong do các bênh không lây nhiễm và là cän nguyên của 10% số tàn tạt. BTM cũng là nguyên nhân cơ bản của tàn tạt và tử vong ở các nước công nghiêp hoá [66].

Ngoài viêc ảnh hưởng tới sức khỏe, tàn tạt và tử vong, BTM còn là môt gánh näng đối với nền kinh tế, xã hôi. Theo thống kê của trung tâm kiểm soát bênh tạt Hoa Kỳ (CDC), näm 2005 chi phí tiêu tốn cho BTM khoảng 394 tỷ USD, trong đó 242 tỷ USD dành cho chäm sóc y tế’ và 152 tỷ USD do mất khả näng lao đông vì tàn tạt hoäc tử vong [53]. Trong báo cáo của Viên nghiên cứu về Trái đất thuôc Đại học Columbia đã chỉ ra tỷ lê tử vong do BTM ở những người thuôc lứa tuổi lao đông ở các nước Ấn Đô, Nam Phi và Braxin gấp từ 1,5 đến 2 lần tỷ lê tử vong cùng lứa tuổi ở Hoa Kỳ. ở Nam phi, 41% số trường hợp tử vong do bênh tim mạch nằm trong đô tuổi từ 35-64 [43].

ở Viêt Nam, theo thống kê của Bô Y tế’ näm 2005, tỷ lê mắc và tử vong của các BTM là 6,77% và 20,68% trong khi đó tỷ lê mắc và tử vong do các bênh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng lần lượt là 11,96% và 16,03% [6].

Trong nghiên cứu về dịch tễ học BTM ở nông thôn Viêt Nam, Nguyễn Hoàng Minh cho thấy tỷ lê tử vong do bênh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất, chiếm 32,2% [49].

ở Viêt Nam, trước đây cũng đã có môt số nghiên cứu về mô hình bênh tạt nói chung hoäc nghiên cứu về các BTM theo chuyên khoa. Tuy nhiên gần đây mô hình bênh tạt ở nước ta đã có nhiều thay đổi lớn. Tỷ lê các bênh lây nhiễm đã phần nào giảm đi môt cách đáng kể, nhưng tỷ lê các bênh không lây nhiễm, trong đó có các BTM lại có chiều hướng täng lên rõ rêt. Mät khác trong mô hình các BTM thì cũng có những sự thay đổ đáng kể. Nhạn thức được tầm quan trọng cần phải có môt dữ liêu cụ thể và toàn diên về mô hình các BTM để từ đó có thể giúp những nhà lãnh đạo, các nhà quản lý đối với viêc đưa ra những dự báo, những chiến lược phòng chống các BTM môt cách hữu hiêu nhằm giảm bớt gánh näng bênht tạt do các BTM ở nước ta, nên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu với mục tiêu :

Tìm hiểu đặc điểm mô hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Tim mạch Việt Nam trong thời gian  năm (2003-2007). 

Leave a Comment