Thực trạng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong một số thực phẩm rau quả và mức thâm nhiễm ở phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ tại Hà Nội

Thực trạng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong một số thực phẩm rau quả và mức thâm nhiễm ở phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ tại Hà Nội

Luận án tiến sĩ y học Thực trạng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong một số thực phẩm rau quả và mức thâm nhiễm ở phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ tại Hà Nội.Rau quả là một trong những nguồn thực phẩm chủ yếu cung cấp các loại vitamin, khoáng chất, chất chống oxy hóa, chất xơ và một số chất dinh dưỡng quan trọng khác cho cơ thể con người [1],[2]. Tại châu Âu việc tiêu thụ rau vào khoảng 160 kg/bình quân đầu người/năm, ở châu Á lượng rau được tiêu thụ còn nhiều hơn nữa [3]. Chế độ ăn với nhiều rau quả đã được chứng minh là một trong những yếu tố bổ sung chất dinh dưỡng, khoáng chất, vitamin và làm giảm nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm như đái đường, tim mạch, ung thư [4]. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cũng cho thấy rằng tiêu thụ rau quả không an toàn cũng có thể gây ra những tác động xấu đến sức khỏe con người do có chứa vi sinh vật gây bệnh và các chất độc hại như kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật…[5]. Đảm bảo nguồn rau quả sạch là một trong những ưu tiên của nhiều quốc gia phát triển. Tuy nhiên, ở các quốc gia đang phát triển thì ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật trong rau quả đã trở thành một vấn đề sức khỏe công cộng rất cần được quan tâm [6],[7],[8].

Thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) là những chất hóa học, thường được dùng trong các hoạt động nông nghiệp hiện đại để bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh [7],[9]. Các loại rau quả bị tấn công bởi sâu bệnh trong quá trình sản xuất, bảo quản dẫn đến thiệt hại và làm giảm năng suất, chất lượng nông sản. Để bảo vệ cây trồng, việc sử dụng TBVTV có xu hướng tăng lên và xu hướng này tăng nhanh ở các nước có nền kinh tế dựa vào nông nghiệp nhưng kiểm soát sử dụng TBVTV chưa tốt [10]. Theo ước tính của ngành công nghiệp, lượng thuốc trừ sâu được sử dụng tăng cao ở nhiều khu vực: 0,54 kg/ha ở ấn Độ, 3,7 kg/ha ở Mỹ, 2,7 kg/ha ở Châu Âu. Lượng TBVTV được sử dụng ở Ấn Độ tăng từ 154 tấn năm 1954 đến 88.000 tấn trong năm 2000-2001 sau cuộc cách mạng xanh của nước này [11]. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước cũng cho thấy các mẫu rau quả bán ở chợ được phát hiện có dư lượng TBVTV lớn như nhóm pyrethroid trong đó có insecticides cyflutthrin, cypermethrin and deltamethrin….
Ở nước ta hiện nay, người trồng rau đã và đang sử dụng TBVTV để phun tưới cho rau quả với mục đích đảm bảo năng suất cây trồng mà chưa có hiểu biết đầy đủ về tác hại của TBVTV. Nếu như trước những năm 80 của thế kỷ XX, khối lượng TBVTV dùng hàng năm trung bình khoảng 8.000 tấn thì trong những năm gần đây, hàng năm Việt Nam nhập và sử dụng từ 70.000 đến khoảng 100.000 tấn TBVTV phục vụ trong nông nghiệp [12]. Do vậy, Việt Nam là một trong số những nước có lượng tiêu thụ TBVTV lớn, đã và đang tác động xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Theo báo cáo năm 2015 của Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) gửi Thanh tra Bộ NN&PTNT cho thấy, trong tổng số 63 mẫu rau quả tại Hà Nội thì có tới 14 mẫu (chiếm 22,2%) chứa dư lượng TBVTV vượt mức giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn của Việt Nam [13]. Kết quả kiểm tra trên 35 mẫu rau tại các tỉnh phía Nam cũng đã phát hiện có 8,6% mẫu rau có hàm lượng TBVTV đủ khả năng gây ngộ độc cho người ăn [14].
Tình trạng thâm nhiễm TBVTV trong các mô, dịch cơ thể con người đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới tiến hành. Kết quả cho thấy nhiều mẫu sữa, nước tiểu, máu của những người sống trong vùng nông thôn có thâm nhiễm TBVTV với nồng độ cao hơn những khu vực thành thị [15]. Nhiều nghiên cứu khác cũng chứng minh được mối liên quan nhân quả giữa phơi nhiễm TBVTV ở trẻ em hoặc bà mẹ nuôi con với việc chậm phát triển của trẻ em. Các yếu tố liên quan đến quá trình thâm nhiễm TBVTV hoặc tình trạng thâm nhiễm TBVTV cũng được nghiên cứu để tìm ra các yếu tố cho các can thiệp cộng động hiệu quả như tuổi bà mẹ, nghề nghiệp, số con, tình trạng kinh tế xã hội, nguồn thức ăn…[16],[17]. Hiện nay, ít có nghiên cứu ở Việt Nam được tiến hành để xác định mức thâm nhiễm của TBVTV qua sữa mẹ, mẫu nước tiểu của của phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong một số thực phẩm rau quả và mức thâm nhiễm ở phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ tại Hà Nội” nhằm các mục tiêu sau:
1. Đánh giá thực trạng dư lượng 05 loại thuốc bảo vệ thực vật thường sử dụng trong một số thực phẩm rau quả và mô tả liên quan trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2013.
2. Xác định tỷ lệ thâm nhiễm thuốc bảo vệ thực vật trong mẫu sữa, nước tiểu của nhóm phụ nữ nuôi con sữa mẹ tại 02 xã/phường trên địa bàn nghiên cứu.
Qua kết quả nghiên cứu này, việc hiểu rõ thực trạng dư lượng TBVTV và nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe này giúp cho công tác quản lý an toàn thực phẩm được thực hiện tốt hơn trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và hai quận/huyện được chọn trong nghiên cứu này. Nhóm nghiên cứu cũng có kiến nghị, đề xuất những phương hướng, biện pháp tăng cường công tác quản lý về an toàn thực phẩm đối với các cơ quan quản lý góp phần trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Chương 1
TỔNG QUAN

Có hơn 1.000 loại TBVTV được sử dụng trên toàn thế giới để bảo vệ mùa màng, thực phẩm khỏi bị hỏng do sâu bệnh gây hại. Mỗi một loại thuốc có độc tính khác nhau. Nhiều thuốc thế hệ cũ, giá rẻ chẳng hạn như DDT (Dichlorodiphenyltrichloroethane) và lindane (Gama-Hexachlorocy chlohexane) có thể tồn dư trong đất và nước trong nhiều năm, những thuốc này đã bị cấm sử dụng ở nhiều quốc gia thành viên khi các quốc gia này đã ký công ước Stockholm năm 2001 – công ước nhằm loại bỏ hoặc hạn chế sử dụng các thuốc này [18].
Độc tính của các TBVTV phụ thuộc vào đặc tính của thuốc và các yếu tố khác, ví dụ, thuốc diệt sâu bọ có xu hướng độc hơn thuốc diệt cỏ. Cùng một thuốc nhưng tác dụng có thể khác nhau do liều lượng khác nhau. Không có bất kỳ thuốc nào được phép sử dụng cho thực phẩm trong giao dịch thương mại quốc tế. Tác dụng không mong muốn từ các thuốc chỉ xuất hiện trên mức phơi nhiễm an toàn. Khi con người tiếp xúc với một lượng TBVTV có thể gây ra độc cấp tính hoặc các ảnh hưởng lâu dài, chẳng hạn như ung thư và các ảnh hưởng bất lợi sức khỏe khác [18].
1.1. Giới thiệu về thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV)
1.1.1. Định nghĩa
Thuốc bảo vệ thực vật là những hợp chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp hóa học được dùng để phòng ngừa hoặc diệt trừ sinh vật gây hại cây trồng và nông sản. TBVTV gồm nhiều nhóm khác nhau, gọi theo tên nhóm sinh vật gây hại, như thuốc trừ sâu dùng để trừ sâu bọ gây hại cho cây trồng và nông sản. Ngoài ra, có nhiều định nghĩa khác nhau về TBVTV.
Tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm Liên Hiệp Quốc (FAO) năm 1986 định nghĩa TBVTV là bất kỳ một chất nào đó hay hỗn hợp các chất nào đó được dùng để phòng, phá hủy hay diệt bất kỳ một vật hại nào kể cả véc-tơ bệnh của người hay súc vật, những loại cỏ dại hoặc các động vật gây hại hoặc can thiệp trong quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hoặc tiếp thị thực phẩm, thức ăn gia súc. Khái niệm này bao hàm các chất được dùng để điều chỉnh sự phát triển, làm rụng lá hoặc làm khô thực vật hoặc là các chất được sử dụng cho mùa màng trước hoặc sau khi thu hoạch nhằm bảo quản hàng hóa khỏi hư hỏng trong quá trình cất giữ vận chuyển [7],[19].
Theo Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 thì TBVTV là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hặc kiểm soát vi sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc. TBVTV là loại hàng hóa kinh doanh có điều kiện và phải được quản lý theo danh mục. Hằng năm, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành “Danh mục TBVTV được phép sử dụng tại Việt Nam” và “Danh mục TBVTV cấm sử dụng tại Việt Nam”. Các tổ chức, cá nhân được phép nhập khẩu, sản xuất, buôn bán, sử dụng thuốc có trong “Danh mục TBVTV được phép sử dụng tại Việt Nam”.
Như vậy, ta thấy TBVTV thường là những chế phẩm có nguồn gốc hóa học hay sinh học và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ dịch hại hay điều khiển quá trình sinh trưởng và phát triển cây trồng. Các chế phẩm này thường có nguồn gốc hóa học là chủ yếu và thường là những chất độc gây độc cho con người và gia súc. Các chế phẩm có nguồn gốc sinh học ít độc hơn, ít gây hại cho người và gia súc nhưng giá thành lại cao nên cũng ít được sử dụng.
TBVTV là các loại hoá chất do con người sản xuất ra để trừ sâu bệnh và cỏ dại có hại cho cây trồng. TBVTV được phân thành hai loại chính là thuốc trừ sâu, thuốc trừ nấm, thuốc trừ vi khuẩn, thuốc nhện, thuốc trừ chuột, thuốc trừ ốc và thuốc trừ cỏ. Các loại thuốc này có ưu điểm là diệt sâu bệnh, cỏ dại…. nhanh, sử dụng lại đơn giản, nên được nông dân ưa thích. Nhưng TBVTV cũng có rất nhiều tác hại như là độc với người, gia súc, gia cầm và sinh vật có ích khác; gây ra ô nhiễm môi trường; tác động xấu đến hệ quần thể sinh vật; tăng dư lượng TBVTV trên nông sản nếu sử dụng không đảm bảo đúng thời gian cách ly.
Trong tự nhiên có rất nhiều loại sâu hại khác nhau, có loại sâu ẩn núp dưới lá, có loại đục vào thân cây, có loại lại chui vào đất, nên phải dùng nhiều loại thuốc khác nhau để tiêu diệt chúng. Việc này gây khó khăn cho người sử dụng, nhất là những người có trình độ văn hoá hạn chế. Nhiều người chỉ thích mua thuốc rẻ để phun, không cần biết phạm vi tác dụng của chúng ra sao. Có người hay phun quá liều chỉ dẫn để cho “chắc ăn”, làm tăng lượng thuốc thừa tích đọng trong đất và nước.
Các loại thuốc trừ sâu thường có tính năng rộng, nghĩa là có thể diệt được nhiều loại côn trùng. Khi dùng thuốc diệt sâu hại một số côn trùng có ích cũng bị diệt luôn, đồng thời ảnh hưởng tới các loại chim ăn sâu, vì chim ăn phải sâu đã trúng độc. Nói cách khác, sau khi phun thuốc trừ sâu, số lượng thiên địch (có lợi như các loài nhện, bọ rùa…) của nhiều loại sâu cũng giảm. Ðiều đó có lợi cho sự phát triển của sâu hại.
Các loại thuốc trừ sâu đều có tính độc cao. Trong quá trình dùng thuốc, một lượng thuốc nào đó có thể đi vào trong thân cây, quả, hoặc dính bám chặt trên lá, quả. Người và động vật ăn phải các loại nông sản này có thể bị ngộ độc tức thời đến chết hoặc nhiễm độc nhẹ, từ từ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ. Do trình độ hạn chế, đa phần người dùng TBVTV không tuân thủ đầy đủ các quy định về sử dụng, bảo quản thuốc, có người cất thuốc vào chạn, vào tủ quần áo đã gây nên những trường hợp ngộ độc, thậm chí chết thảm thương do ăn nhầm phải thuốc.

Nguồn: https://luanvanyhoc.com

Leave a Comment