Nghiên cứu giá trị của phương pháp sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn Cắt lớp vi tính trong chẩn đoán một số  tổn thương cột sống

Nghiên cứu giá trị của phương pháp sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn Cắt lớp vi tính trong chẩn đoán một số  tổn thương cột sống

Tên luận án: “Nghiên cứu giá trị của phương pháp sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn Cắt lớp vi tính trong chẩn đoán một số  tổn thương cột sống”

Mã số: 62720166.  Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh.

Họ và tên NCS: Phạm Mạnh Cường. Nghiên cứu sinh khoá 31

Người hướng dẫn: GS.TS. Phạm Minh Thông

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Y Hà Nội

Qua quá trình nghiên cứu trên 143 bệnh nhân được thực hiện kĩ thuật sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn Cắt lớp vi tính theo quy trình nghiên cứu, chúng tôi rút ra được những kết luận mới sau đây:

– Kĩ thuật sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn Cắt lớp vi tính sử dụng kim sinh thiết xương đơn trục với tổn thương có đặc xương, kết hợp với kim cắt phần mềm đối với tổn thương tiêu xương là kĩ thuật an toàn (tỉ lệ biến chứng 0,7%), hiệu quả cao (mức độ thỏa đáng của bệnh phẩm 95,1%)

– Kết quả xét nghiệm bệnh phẩm sinh thiết có ý nghĩa lâm sàng cao, làm thay đổi có ý nghĩa chẩn đoán trước sinh thiết, nhiều nhất ở nhóm nhiễm trùng cột sống (63,9%), tiếp theo là u nguyên phát cột sống (55,6%) và di căn cột sống (33,3%).

– Hiệu quả sinh thiết đối với nhóm bệnh lí không nhiễm trùng (u nguyên phát, u thứ phát…) cao hơn nhóm bệnh lí nhiễm trùng cột sống (tỉ lệ chẩn đoán Mô bệnh học đặc hiệu là 88,3% so với 67,5%)

– Đối với bệnh phẩm sinh thiết, việc kết hợp giữa xét nghiệm Tế bào học với xét nghiệm Mô bệnh học không làm thay đổi tỉ lệ chẩn đoán đặc hiệu so với xét nghiệm Mô bệnh học đơn thuần; cấy bệnh phẩm sinh thiết có tỉ lệ dương tính thấp (11,6%).

– Đối với các trường hợp nghi ngờ lao cột sống cần kết hợp giữa xét nghiệm Mô bệnh học, cấy bệnh phẩm và xét nghiệm PCR lao đối với bệnh phẩm sinh thiết để đạt được tỉ lệ chẩn đoán đặc hiệu cao nhất.

– Đối với các trường hợp có nhiều loại hình tổn thương (đặc xương, phần mềm, ổ dịch hoại tử…), sinh thiết vào vị trí tổn thương phần mềm có giá trị chẩn đoán tốt hơn (mức độ thỏa đáng 100% so với 95,1%).

Nguồn: https://luanvanyhoc.com

Leave a Comment