Nghiên cứu phân lập, tinh chế, thiết lập chất chuẩn để định tính, định lượng một số lignan trong quả của chi Cleistanthus, họ Thầu dầu

Nghiên cứu phân lập, tinh chế, thiết lập chất chuẩn để định tính, định lượng một số lignan trong quả của chi Cleistanthus, họ Thầu dầu

Nghiên cứu phân lập, tinh chế, thiết lập chất chuẩn để định tính, định lượng một số lignan trong quả của chi Cleistanthus, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).Trong khuôn khổ của dự án “Nghiên cứu sàng lọc các chất có hoạt tính sinh học từ thảm thực vật Việt Nam”, Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với Viện Hóa học các hợp chất tự nhiên– Cộng hòa Pháp đã thu hái, định danh khoa học và thử sàng lọc hoạt tính sinh học của dịch chiết ethyl acetat của 2,500 loài thực vật của nước ta, trong đó nổi bật là dịch chiết từ quả cây Cách hoa Đông Dương (C. indochinensis Merr. ex Croiz), Chà chôi (C. tonkinensis Jabl.) và Cách hoa eberhardt (C. eberhardtii Gagn) có phần trăm ức chế mạnh dòng tế bào ung thư biểu mô KB từ 88,40 đến 95,17%. Từ quả của 3 loài trên đã phân lập và xác định cấu trúc được nhiều hợp chất tinh khiết như: cleistantoxin, cleisindoside D…Một điều rất thú vị là, các hợp chất cleistantoxin,cleisindoside D có cấu trúc hoá học gần giống etoposid và teniposid là 2 dẫn chất glycosid của podophyllotoxin đang được sử dụng làm thuốc điều trị ung thư phổi, tinh hoàn, buồng trứng…

Nghiên cứu liên quan cấu trúc cleistantoxin, cleisindoside D với tác dụng dược lí, cơ chế gây độc tế bào cho thấy các chất này có khả năng ức chế enzym topoisomerase IIB và enzym caspase và được dự đoán có hoạt tính kháng tế bào ung thư phù hợp với kết quả thử trên in vitro và in vivo, cleistantoxin có hoạt tính kháng ung thư mạnh nhất.
Từ các kết quả đó, Đề tài độc lập cấp Nhà nước, mã số ĐTĐLCN.14/16 của Bộ Khoa học và Công nghệ đã tiến hành thử hoạt tính kháng ung thư của cao khô chiết xuất từ quả cây Chà chôi trên chuột Nude cấy tế bào ung thư phổi người với liều 100mg/kg cân nặng, cho thấy 100% chuột còn sống và kéo dài được thời gian sống sau 6 tuần điều trị so với nhóm chứng không được dùng cao. Vì vậy, cao khô đang được tiếp tục nghiên cứu, phát triển thành nguyên liệu thuốc. Để xây dựng tiêu chuẩn cho cao khô này, rất cần có chất chuẩn cleistantoxin và cleisindoside D. Tuy nhiên, 2 chất này đang được nghiên cứu, phát triển thuốc mới nên trên thế giới chưa có chất chuẩn đối chiếu. Vì vậy, cleistantoxin và cleisindoside D phải được thiết lập thành chất chuẩn gốc. Đây là lĩnh vực nghiên cứu mới, hầu như ở Việt Nam còn chưa có công trình nào công bố về thiết lập chuẩn gốc, chủ yếu là thiết lập chuẩn thứ cấp.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, luận án “Nghiên cứu phân lập, tinh chế, thiết lập chất chuẩn để định tính, định lượng một số lignan trong quả của chi Cleistanthus, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)” là công trình đầu tiên thiết lập hai chất chuẩn gốc định lượng cleistantoxin và cleisindoside D từ quả cây Chà chôi (có hàm lượng 2 chất này cao nhất) với các mục tiêu sau:
– Mục tiêu 1: Phân lập, tinh chế và khẳng định cấu trúc của cleistantoxin và cleisindoside D từ quả cây Chà chôi làm nguyên liệu thiết lập chất chuẩn và xác định cấu trúc các chất tinh khiết mới phân lập được.2
– Mục tiêu 2: Thiết lập được hai chất chuẩn gốc định lượng cleistantoxin và cleisindoside D
– Mục tiêu 3: Xây dựng và thẩm định phương pháp định tính và định lượng một số lignan trong quả cây chi Cách hoa (Cleistanthus).
2. Những đóng góp mới của luận án
– Về mặt hoá học Lần đầu tiên đã phân lập, tinh chế và xác định cấu trúc 8 chất mới từ quả cây Chà chôi là: 7′,8′-dehydrocleistantoxin (CT1), cleistonkiside A (CT2), cleistonkinin A (CT3), cleistonkinin B (CT4), cleistonkiside B (CT5),
cleistonkinen (CT6), cleistonkinin E (CT7), cleistonkinin C (CT8).
– Về mặt thiết lập chất chuẩn Lần đầu tiên công bố:
Tiêu chuẩn chất lượng của nguyên liệu thiết lập chuẩn gốc định lượng cleistantoxin và cleisindoside D theo hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO) và thiết lập chất chuẩn theo hướng dẫn của ISO GUIDE 35 Đóng được 96 ống chất chuẩn gốc định lượng cleistantoxin có giá trị trên COA là 99,3%, độ không đảm bảo đo là 0,1%, nghiên cứu độ ổn định được 18
tháng và 76 ống chất chuẩn gốc định lượng cleisindoside D có giá trị trên COA là 94,2%, độ không đảm bảo đo là 0,4%, nghiên cứu độ ổn định được 12 tháng.
Tiêu chuẩn chất lượng cho nguyên liệu thiết lập chất chuẩn gốc định tính 7’,8’-dehydrocleistantoxin (CT1) và cleisindoside A. Trong đó, có chất 7′,8′- dehydrocleistantoxin là chất mới phân lập được từ quả Chà chôi và phần xây dựng bộ dữ liệu nhận dạng chất 7′,8′-dehydrocleistantoxin là công bố hoàn toàn mới của luận án.
Đóng ống chuẩn phân giải gồm 4 chất chuẩn: cleisindoside A, cleisindoside D, cleistntoxin và 7’,8’-dehydrocleistantoxin để đánh giá độ phù hợp hệ thống sắc kí.
– Về mặt kiểm nghiệm dược liệu và thuốc dược liệu
Lần đầu tiên ứng dụng 2 chất chuẩn gốc định lượng và 2 chất chuẩn gốc định tính để xây dựng và thẩm định phương pháp định lượng đồng thời cleisindoside D và cleistantoxin và định tính được 4 lignan: cleisindoside A, cleisindoside D, cleistntoxin và 7’,8’-dehydrocleistantoxin trong quả của chi Cách hoa và chưa có công trình nào công bố về kết quả này.
3. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 148 trang, 76 hình và 45 bảng. Bố cục gồm các phần: Đặt vấn đề (2 trang); Tổng quan (29 trang); đối tượng nội dung và phương pháp nghiên cứu (14 trang); Kết quả nghiên cứu (80 trang); Bàn luận (22 trang); Kết luận và
kiến nghị (2 trang); Danh mục các công trình đã công bố liên quan điến luận án (1 trang); Luận án có 96 tài liệu tham khảo và 240 trang phụ lục

Leave a Comment