Đặc điểm lâm sàng và yếu tố liên quan đến độ nặng của bệnh màng trong tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng

Đặc điểm lâm sàng và yếu tố liên quan đến độ nặng của bệnh màng trong tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng

Đặc điểm lâm sàng và yếu tố liên quan đến độ nặng của bệnh màng trong tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng
Đặng Thị Hoài Nam, Tràn Thị Hoàng

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh màng trong; tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh.

Phương pháp: Mô tả cắt ngang, được thực hiện từ tháng 04/2018 đến tháng 09/2020 tại khoa Nhi Sơ sinh, Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng.

Kết quả: 104 trẻ được chẩn đoán bệnh màng trong với tỷ lệ trai 57,7% và gái 42,3%. Gần 80% trẻ có tuổi thai < 32 tuần và 74% có cân nặng lúc sinh < 1500 gam. Đa phần trẻ có bệnh màng trong khởi phát triệu chứng sớm trong giờ đầu (94,2%) với biểu hiện thở nhanh > 60 lần/phút (62,5%); rút lõm lồng ngực (53,8%); co kéo gian sườn (51,9%); thở rên (45,2%). Đặc điểm thương tổn độ IV trên phim X-quang phổi chiếm 35,6%. Tỉ lệ bệnh màng trong nặng cần bơm surfactant là 62,5%. Nhóm tuổi thai < 28 tuần có nguy cơ bệnh màng trong nặng cao nhất với OR = 8,6; nguy cơ nhóm trẻ 28 – < 32 tuần với OR = 8,1. Trẻ được dự phòng dexamethasone trước sinh đủ liều có nguy cơ bệnh màng trong nặng thấp hơn so với nhóm chưa được dùng hoặc dùng chưa đủ liều với OR lần lượt 3,4 và 3,2. Ngoài ra, hồi sức với bóp bóng mặt nạ hoặc đặt nội khí quản, hình ảnh thương tổn độ III – IV trên X quang phổi có nguy cơ OR = 3,8.

Kết luận: Chăm sóc trước sinh cần được cải thiện để hạn chế sinh non, corticoid cần được chỉ định kịp thời cho những sản phụ dọa sinh non dưới 34 tuần, đồng thời công tác hồi sức và chăm sóc trẻ sinh non cần được chú trọng ngay từ phòng sinh để phòng ngừa bệnh màng trong mức độ nặng.

 

Đặc điểm lâm sàng và yếu tố liên quan đến độ nặng của bệnh màng trong tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng

Leave a Comment